Change background image
LOVE quotion

Bắt đầu từ 4.53' thứ Hai ngày 17/10/2011


You are not connected. Please login or register

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

Nghìn lẻ một đêm (tiếng Ả Rập: كتاب ألف ليلة وليلة Kitāb 'Alf Layla wa-Layla; tiếng Ba Tư: هزار و یک شب Hazâr-o Yak Šab) là tập truyện dân gian đồ sộ và nổi tiếng của nhân dân Ả Rập, có nguồn gốc lâu đời trên xứ sở của các hoàng đế Arap cổ đại và được bổ sung qua nhiều thế kỷ bằng kho tàng truyện cổ dân gian các nước trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, được lưu truyền rộng rãi ở Iran, Iraq, Ai Cập, Ethiopia,... sau đó phổ biến khắp Trung Đông. Không thể xác định được ai là tác giả của những truyện được kể trong Nghìn lẻ một đêm, vì đây chỉ là sự góp nhặt của những truyện tình, truyện phiêu lưu hay truyện thần thoại mà nhiều người truyền tụng, được nhiều người kể chuyện trau truốt, tuyển lựa những cốt truyện hấp dẫn nhất và truyền bá qua nhiều thế kỷ trong dân gian. Rất có thể vào năm 1450, một nhà kể chuyện chuyên nghiệp xứ Ba Tư đã chép lại những truyện này và sắp đặt dưới hình thức mà chúng ta thấy ngày nay. Cuốn truyện lần đầu tiên được công bố ở châu Âu trong những năm 1704-1709 qua bản dịch tiếng Pháp 12 tập của học giả Antoine Galland. Chính nhờ bản dịch này mà bộ truyện nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng phổ biến khắp thế giới, làm say mê không biết bao nhiêu thế hệ.

Từ khi ra đời đến nay, Nghìn lẻ một đêm đã trở thành tài sản văn hóa chung của nhân loại, có ảnh hưởng sâu sắc từ Đông sang Tây. Nhiều người đã dùng những câu chuyện trong tác phẩm để làm đề tài sáng tác cho những hình thức nghệ thuật khác như phim, kịch, vũ ba-lê, ca vũ kịch,...

Lịch sử

Vào thế kỷ 8, Baghdad trở thành một trong những thành phố quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nhà buôn từ Ba Tư (Iran), Ấn Độ, châu Phi và châu Âu đều có mặt ở đây. Vào thời gian đó, các câu truyện dân gian (được truyền khẩu trong nhiều năm) được thu thập và biên soạn lại thành một cuốn sách.

Những câu chuyện trong này thường là những câu chuyện dân gian truyền khẩu. Ở đâu cũng vậy, các chuyện kể dân gian không bao giờ là công trình sáng tạo của một người và có dạng hoàn chỉnh ngay từ đầu hay trong một thời gian ngắn. Cho đến một lúc nào đấy nó dược những tài năng kiệt xuất chỉnh lý, định hình lần cuối cùng, rồi được nhân dân chấp nhận coi như dạng bản cuối cùng. Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó kể khắp nơi. Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ 12 và 13 đã làm cho các chuyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ.

Nội dung chủ yếu của những câu truyện này bắt nguồn từ một cuốn sách Ba Tư cổ tên là Hazâr Afsâna ("Một nghìn truyện thần thoại", tiếng Ba Tư: هزارافسانه).Theo R. Niconxơn trong Lịch sử văn học A Rập, năm 956 một học giả A Rập tên là Maxađi (Masadi) đã nhắc tới tác phẩm này.

Năm 988, Môhamét Isac (Mohamed Ishaq), tác giả một tập thư mục những tác phẩm văn học A Rập và nước ngoài đã nói đến việc người A Rập soạn lại tập truyện cổ Ba Tư đó. Ông viết: "Tác giả tập Truyện các tể tướng là An Jasihiyari (Agdul Al Jahshitari) bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đều riêng biệt không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm nghề kể chuyện lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc kết những câu chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành một nghìn truyện như dự định".

Theo các nhà nghiên cứu Nghìn lẻ một đêm ít ra là bản lưu truyền đến với chúng ta ngày nay được định hình rõ ràng vào khoảng cuối thế kỷ 15 ở Ai Cập. Thời kỳ này cả nước Ai Cập đã hoàn toàn theo đạo Hồi. Thật ra, sự xuất hiện của nó còn ngược lên đến thời xa xưa, bắt nguồn từ những truyện Ba Tư rất cổ và đã trải qua một thời kỳ tồn tại lâu dài trước khi được viết ra thành văn.

Nghìn lẻ một đêm như ta đã biết hiện nay, lần đầu tiên được giới thiệu với châu Âu rồi từ đó phổ cập hầu như rộng khắp trên toàn thế giới là nhờ công lao của một học giả người Pháp: Angtoan Galăng (Antoine Galland) mà bản dịch từ khi ra đời cách đây gần ba thế kỷ đã mau chóng trở thành kinh điển.

Khi ở Pari, một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và và cho xuất bản. Sách sắp in ra thì dịch giả được biết những truyện này thực ra rút ra từ "một pho đồ sộ gồm nhiều tập đề là Nghìn lẻ một đêm"[3]. Ông liền nhờ người tìm kiếm hộ, từ Xyri người ta chỉ gửi đến cho ông có bốn tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên cho xuất bản năm 1704. Món quà nhỏ mọn như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân O, lập tức được hoan nghênh nhiệt liệt. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu nhân O cả triều đình nghị viện, từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào tranh nhau tập sách.
Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709, A.Galland được một người bạn A Rập đến Pari trao thêm cho một số truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp.

Chừng hai thế kỷ sau A.Galland một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn lẻ một đêm ra đời. Dịch giả là tiến sĩ J.C.Mardrus. Thật ra đây là một bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác. Mardrus không bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà dâm tục và tất cả những thơ rải rác trong các truyện.

Người đã bàn cãi khá nhiều về hai bản dịch đó. Các nhà nghiên cứu văn học đều nhất trí đánh giá cao bản dịch của A.Galland theo đúng như lời nhận xét của tạp chí Bách khoa (Pháp) số tháng riêng năm 1900: "Bản dịch của A.Galland cho chúng ta một ý niệm rất trung thành về tính cách và lời văn của người A Rập cũng như của bộ Nghìn lẻ một đêm". Chính vì vậy mà giờ đây bản dịch truyện của Galland được phổ biến và được người đọc đón nhận nồng nhiệt nhất.

Tóm tắt

Kho tàng truyện cổ vô cùng đa dạng của Nghìn lẻ một đêm được kết nối xoay quanh một trục đơn giản: Xưa kia ở miền Đông A-rập, thời Sassanid có một vị vua Ba Tư Shahriyar. Vị vua ngự trị trên một hòn đảo không rõ tên "ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc" (trong các bản dịch tiếng Ả Rập hiện nay thì ông ta là vua của Ấn Độ và Trung Quốc). Vì hoàng hậu ngoại tình nên đâm ra chán ghét tất cả đàn bà, tính nết trở nên hung bạo. Để thỏa cơn thịnh nộ điên loạn, cứ mỗi ngày ông ta cưới một cô gái và sau một đêm mặn nồng lại sai lính đem giết (trong một số bản: ba đêm một lần). Thấy đất nước lâm nguy,Sheherazade xin cha cho mình được một đêm hưởng ân sủng của hoàng thượng. Viên tể tướng rất đau lòng khi thấy con mình như vậy vì ông biết sau đêm đó nàng sẽ chết. Nhưng trước sự quyết tâm của con ông đành phải đem con dâng cho vua Shahriyar. Là cô gái thông minh, tài trí lại giàu nghị lực, nên sau nàng đã tìm được cách để thoát khỏi cái chết. Nàng cùng với sự giúp đỡ của em gái nàng là Dinarzade, nàng nhờ em đánh thức mình dậy khi trời sắp sáng và yêu cầu nàng kể chuyện. Những câu chuyện được sắp xếp khéo léo để đúng khi mặt trời mọc là lúc hấp dẫn nhất, nàng kín đáo dừng lại khi chuyện chưa chấm dứt khiến vua còn nóng lòng muốn nghe đoạn tiếp, không thể ra lệnh xử tử nàng.

Trong suốt một nghìn lẻ một đêm, nàng Sheherazade đã liên tục kể những chuyện về tình yêu, chiến tranh và pháp thuật, về những vị vua cũng như bọn ăn mày, về những xứ sở mà kim cương nhiều hơn đá sỏi, về những cô gái đẹp, về cả những mưu toan diễn ra trong các ngõ hẻm hay các khu chợ tại các thành phố phương Đông. Hai nàng cũng kể về những thị trấn, sa mạc, hải đảo xa xôi, nơi các vị phù thủy sử dụng pháp thuật, về các loài ngựa biết bay, chó biết nói, người hóa cá, cá lớn hơn cá voi, chim khổng lồ. Nàng kể về những cặp tình nhân trong các túp lều tồi tàn, họ có thể là người gan dạ hoặc hèn nhát, nhưng tất cả đều đa tình và biết hy sinh vì người yêu. Bối cảnh của các chuyện của nàng ở phương Đông, phần lớn xoay quanh các thành phố huyền thoại Bagdad, Cairo và Damascus. Hàng ngàn đêm trôi qua, cuối cùng nhà vua bị cảm hóa, tình yêu cuộc sống và con người trỗi dậy khiến ông ta đã quên khuấy việc giết người. Cảm phục nàng Sheherazade, vua đã bãi bỏ lệnh bắt con gái để giết một cách tàn nhẫn và đồng ý cưới nàng làm vợ bằng một đám cưới linh đình, sau đó cùng nhau sống hạnh phúc đến bạc đầu và họ có với nhau ba người con trai.

Ý nghĩa

Cũng như truyện dân gian của các nước khác, những câu chuyện trong Nghìn lẻ một đêm phản ánh nguyện vọng và ước mơ của quần chúng nhân dân trong xã hội bị áp bức, đè nén. Họ luôn luôn mong muốn được sống trong cảnh thái bình yên vui, được gặp nhiều may mắn, hạnh phúc ấm no. Khát vọng này thể hiện qua những truyện nổi tiếng nhất của tập truyện, chẳng hạn truyện Aladdin và cây đèn thần kể về chàng trai Aladdin, con của một người thợ may Trung Hoa. Bị một con phù thủy dẫn xuống hang ngầm, tại đây chàng tìm thấy một cây đèn, trong đó có nhốt vị thần có thể biến mọi ước mơ thành hiện thực, nhờ đó chàng trở nên giàu có và được cưới công chúa Badroulboudour. Nhiều truyện phản ánh bản chất tốt đẹp của nhân dân lao động cần cù, chăm chỉ, kiên cường dũng cảm và thông minh tài trí, giàu lòng thương người đồng thời vạch trần bản chất tàn ác của bọn vua chúa, quan lại, phú thương, phù thủy,... thể hiện chân lý thiện thắng ác, chính thắng tà, ở hiền gặp lành, và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Cuộc hành trình trên mặt biển của thủy thủ Sinbad là một ví dụ, với những cuộc phiêu lưu kỳ thú của chàng Sinbad lên một hòn đảo nhưng thực chất là một con cá khổng lồ, lạc đến một thung lũng đầy đá quý và chàng đã mưu trí trốn ra được, đâm mù mắt gã khổng lồ ăn thịt người và giết chết chúa tể của biển cả. Truyện Ali Baba và 40 tên cướp ca ngợi tài trí thông minh và dũng cảm của cô gái Morgiana đã cứu sống gia đình bác tiều phu Ali Baba khỏi những tên cướp. Câu chuyện Người câu cá với vị thần kể về một ngư phủ vớt chiếc lọ có nhốt một vị thần, nhờ tài trí mà gã ta đã khiến vị thần khuất phục và trung thành phục vụ cho mình. Với sự giúp đỡ của vị thần, gã đã cứu hoàng tử khỏi pháp thuật và được tưởng thưởng xứng đáng.

Với hàng trăm câu chuyện hoàn chỉnh, bao gồm truyện lịch sử, truyện tình, bi kịch, hài kịch, thơ, truyện hài và truyền thuyết Hồi giáo cấu thành tác phẩm, Nghìn lẻ một đêm có một giá trị hết sức to lớn trong việc phản ánh một thế giới muôn mặt trong đời sống hiện thực xã hội Arap thời Trung cổ, thông qua một óc tưởng tượng cực kỳ phong phú, chủ đề vô cùng khác lạ, nhân vật đủ mọi loại vẻ, với những khung cảnh vừa rộng lớn vừa luôn luôn thay đổi. Về nghệ thuật, Nghìn lẻ một đêm hết sức hoàn chỉnh về kết cấu, bất ngờ trong việc dẫn dắt mạch truyện, phức tạp mà rất chặt chẽ trong các tình tiết và cũng rất điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ, mặc dù có một số truyện qua tay nhiều người, được nhiều thế hệ ghi chép nên đã ít nhiều bị pha tạp hoặc bị hiện đại hóa.

Nhận xét, đánh giá

Đề tựa bản dịch tiếng Nga xuất bản năm 1929 Lêningrát, Macxim Gorki viết: “Trong số các di tích tuyệt diệu của sáng tác truyền khẩu dân gian, các truyện cổ tích của nàng Sheherazade là di tích đồ sộ nhất. Những truyện cổ tích này thể hiện tới mức hoàn hảo kỳ diệu, xu hướng của nhân dân lao động muốn buông mình theo phép nhiệm màu của những ảo giác êm đẹp, thep sự kết hợp phóng khoáng của từ ngữ thể hiện sức mạnh vũ bão của trí tưởng tượng hoa mỹ của các dân tộc phương Đông-người A Rập, người Ba Tư, người Ấn Độ. Công trình dệt gấm bằng từ ngữ này xuất hiện từ thời tối cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan khắp bốn phương, phủ lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng.

—MACXIM GORKI[4]

Nghìn lẻ một đêm không chỉ là một tập truyện cổ tích, đó là cả một thế giới. Thế giới người A Rập trong cuộc đời thực tại cũng như trong cảnh thần tiên ma quái, thế giới của đạo Hồi từ khi có sử thành văn và đạo Hồi qua các truyền thuyết dân gian. Người A Rập vẫn cho pho sách này là một tấm gương vĩ đại ai nấy có thể nhìn vào đấy mà suy ngẫm, mà soi xét bản thân mình.

Lời nói đầu trong nguyên bản viết: “Chuyện người xưa là bài học cho đời nay và ca ngợi: "Vinh quang thay cho những ai đã góp chuyện người đời xưa để làm bài học dạy cho người đời nay! Chính từ trong những bài học ấy, nay xin kể chuyện Nghìn lẻ một đêm với tất cả những điều màu nhiệm và những châm ngôn chứa đựng trong đó".

”Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm rất phong phú và đa dạng. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên, lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần lửa...Về không gian, các chuyện xảy ra những nơi ngày nay được ghi trên bản đồ là Ấn Độ, Sri Lanka, Liên Xô, Trung Quốc, Gioócđani và Iran và trước hết là Tây Á, Bắc Phi, Ai Cập, I rắc, Xyri...Tóm lại, khung cảnh rất rộng lớn, chủ đề thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư. Quả khó có cách nào diễn tả cho gãy gọn nếu ta không trở lại mượn hình tượng Gorki đã dùng:"những sợi tơ muôn màu lan khắp bốn phương, một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng phủ trên mặt đất."

Một số điểm đặc biệt

Những câu truyện nổi tiếng nhất của Sheherazade là Aladdin và cây đèn thần, thủy thủ Sinbad, Ali Baba và bốn mươi tên cướp, tuy vậy, thực tế thì Aladdin và cây đèn thần cùng với Ali Baba và bốn mươi tên cướp chỉ được đưa vào lúc thế kỷ 18 bởi Antoine Galland, một nhà đông phương học người Pháp, người cho rằng mình đã từng nghe kể về chúng ở Aleppo, Syria. Nhiều câu truyện kể về jinn, phù thủy và những nơi huyền thoại, thường được đặt lẫn với người và vùng địa lý thật.
Một đặc điểm nổi bật và xuyên suốt của Nghìn lẻ một đêm là cách dừng câu chuyện lại giữa chừng, báo trước sẽ hạ hồi phân giải, câu chuyện này được lồng vào câu chuyện khác, cũng có khi là tác giả tập trung nhiều nhân vật có tính chất khác nhau lại với nhau, rồi tạo nên tình huống buộc mỗi người phải kể một chuyện về chính mình. Và cách này, truyện muốn kết thúc đâu cũng được, hoặc muốn kéo dài bao nhiêu cũng là hợp lý. Đặc điểm ấy xuất phát từ một sự cần thiết sống còn: nàng Sheherazade phải ngừng câu chuyện của mình vào lúc trời sáng, đoạn hay nhất, hoặc hứa hẹn một câu chuyện khác sẽ còn hấp dẫn hơn nữa; nếu không tên bạo chúa Shahriyar sẽ thi hành quyết định của hắn và người kể chuyện sẽ không thể sống tới ngày hôm sau. Đó cũng là nghệ thuật độc đáo của người kể chuyện rong nhằm thu hút sự chú ý của thính giả, sao cho những người nghe không chán, không mệt, không bỏ ra về giữa chừng, và tối hôm sau sẽ còn nghe đông hơn hôm trước.

Những lúc nàng Sheherazade ngừng lại và nói: "Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu truyện..." hoặc "những truyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đây..." chính là lúc người kể chuyện thưa với thính giả đang chăm chú: "Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép dừng lại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu quý vị...". Lối ngắt chuyện này có những bản ghi thành văn ghi tóm tắt: "Muốn sự thể thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ" (như trong các tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc).

Ảnh hưởng lên văn hóa thế giới

Nghìn lẻ một đêm có tầm ảnh hưởng to lớn lên nền văn học thế giới. Bao nhà văn đã ám chỉ đến Nghìn lẻ một đêm trong tác phẩm của họ hoặc chịu ảnh hưởng từ tác phẩm này. Họ là Henry Fielding, Naguib Mahfouz, John Barth, Jorge Luis Borges, Salman Rushdie, Johann Wolfgang von Goethe, Walter Scott, William Makepeace Thackeray, Wilkie Collins, Elizabeth Gaskell, Charles Nodier, Gustave Flaubert, Marcel Schwob, Stendhal, Alexandre Dumas, Gérard de Nerval, Arthur de Gobineau, Aleksandr Sergeyevich Pushkin, Lev Nikolayevich Tolstoy, Hugo von Hofmannsthal, Arthur Conan Doyle, William Butler Yeats, H. G. Wells, Constantine P. Cavafy, Italo Calvino, Georges Perec, H. P. Lovecraft, Marcel Proust, A. S. Byatt và Angela Carter.

Nhiều nhân vật trong tập truyện đã trở thành biểu tượng trong văn hóa phương Tây, chẳng hạn Aladdin, Sinbad và Ali Baba. Một số yếu tố trong thần thoại Ả Rập và thần thoại Ba Tư đã trở nên phổ biến trong những truyện kỳ ảo hiện đại, chẳng hạn thần đèn, thảm thần, đèn thần,... Một ví dụ về sự phổ biến của các yếu tố này là khi tác giả L. Frank Baum đề xuất viết một câu chuyện kỳ ảo hiện đại trong đó từ bỏ mọi yếu tố rập khuôn thì những thứ khuôn mẫu mà theo ông cần bỏ là thần đèn, chú lùn và nàng tiên.

Năm 1982, Liên minh Thiên văn học Quốc tế (IAU) bắt đầu dùng tên các nhân vật và nơi chốn trong tập truyện (theo bản dịch của Burton) để đặt tên cho nhiều đối tượng địa lý trên vệ tinh Enceladus của Sao Thổ.[7] do "bề mặt vệ tinh này quá kỳ lạ và bí ẩn như những đêm Ả Rập".

Trong văn hóa Ả Rập

Có ít bằng chứng cho thấy trong quá khứ Nghìn lẻ một đêm đã được thế giới Ả Rập trân quý. Nó ít được nhắc đến trong danh sách các tác phẩm văn học phổ biến và có rất ít bản thảo trước thế kỷ 18 còn sót lại.[8] Trong thế giới Ả Rập thời Trung cổ, truyện giả tưởng có địa vị văn hóa thấp hơn so với thơ. Người ta xem tập truyện này là thứ khurafa (truyện không chắc có thực chỉ dành cho phụ nữ và trẻ em giải trí). Theo Robert Irwin, "Ngay cả thời nay, trừ một số nhà văn và viện sĩ, Nghìn lẻ một đêm vẫn còn bị khinh bỉ trong thế giới Ả Rập. Những mẩu truyện này bị xem là thông tục, không chắc có thực, ấu trĩ và được viết rất tệ hại".[9] Tuy nhiên, Nghìn lẻ một đêm vẫn là nguồn cảm hứng cho một số nhà văn hiện đại người Ai Cập, chẳng hạn Tawfiq al-Hakim (tác giả của vở kịch tượng trưng nhan đề Shahrazad, 1934), Taha Hussein (tác giả của Scheherazade's Dreams, 1943)[10] và Naguib Mahfouz (tác giả của Những ngày và đêm Ả Rập, 1981).

Các ảnh hưởng ban đầu lên văn học châu Âu

Mặc dù bản dịch Nghìn lẻ một đêm ra ngôn ngữ nào đó ở châu Âu chỉ mới xuất hiện từ 1704 nhưng có khả năng tập truyện đã ảnh hưởng lên văn hóa phương Tây từ sớm hơn thế rất nhiều. Các nhà văn Kitô giáo ở Tây Ban Nha thời Trung cổ đã dịch thuật nhiều tác phẩm từ tiếng Ả Rập, chủ yếu có nội dung về triết học và toán học, nhưng vẫn có truyện giả tưởng Ả Rập. Bằng chứng cho điều này là tập truyện El Conde Lucanor của Juan Manuel và Cuốn sách của quái thú của Ramón Llull.[11] Chủ đề và mô típ kể chuyện song song của Nghìn lẻ một đêm có trong tác phẩm The Canterbury Tales của Chaucer và Decameron của Boccaccio. Có bằng chứng cho thấy tập truyện đã lan truyền đến vùng Balkkans; bản dịch bằng tiếng România cũng có từ trước thế kỷ 17 dựa trên bản tiếng Hy Lạp.

Văn học phương Tây từ thế kỷ 18

Tập truyện Nghìn lẻ một đêm hiện đại bắt nguồn từ bản dịch của Antoine Galland (năm 1704). Thành công tức thì đến với bản dịch của Galland có lẽ là vì nó ra mắt đúng lúc diễn ra phong trào đọc contes de fées (tạm dịch: "truyện cổ tích") - khởi đầu từ Histoire d'Hypolite của Madame d'Aulnoy vào năm 1690. Cuốn sách của d'Aulnoy có kết cấu rất giống với tác phẩm Nghìn lẻ một đêm và cũng được dẫn dắt bởi một người nữ. Thành công của Nghìn lẻ một đêm lan tỏa khắp Âu châu. Cuối thế kỷ 18, nó đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Hà Lan, tiếng Đan Mạch, tiếng Nga, tiếng Flemish và tiếng Yiddish.[13] Bản truyện của Galland cũng kích thích một dòng thác truyện nhái, khi một số nhà văn Pháp bắt đầu nhái phong cách và bịa đặt một cách gượng gạo, hời hợt trên nền bối cảnh phương Đông. Một số ví dụ về truyện loại này là Les quatre Facardins (1730) của Anthony Hamilton, Le sopha (1742) của Crébillon và Les bijoux indiscrets (1748) của Diderot. Các tác phẩm này thường chứa đựng những sự ám chỉ đầy úp mở về xã hội Pháp đương thời.

Nghìn lẻ một đêm cũng là tác phẩm yêu thích của nhiều tác giả Anh thời Lãng mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt, "Trong nền thi ca Lãng mạn Anh, Nghìn lẻ một đêm là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý."[14] Wordsworth và Tennyson còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ.[15] Không khí của Nghìn lẻ một đêm được Charles Dickens mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng The Mystery of Edwin Drood (1870).

Một số nhà văn còn cố gắng viết "Nghìn lẻ hai đêm", chẳng hạn Théophile Gautier (La mille deuxième nuit, 1842)[10], Joseph Roth (Die Geschichte von der 1002. Nacht, 1939).[17] và Edgar Allan Poe. Poe có tác phẩm "The Thousand and Second Tale of Scheherazade" (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad. Truyện này kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade.

Một số tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng của Nghìn lẻ một đêm là James Joyce, Marcel Proust, Jorge Luis Borges và John Barth.

Điện ảnh

Những câu chuyện từ Nghìn lẻ một đêm từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ Le Palais des Mille et une nuits (1905) của Georges Méliès. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình Aladdin (1992) của Công ty Walt Disney. Robert Irwin cho rằng The Thief of Bagdad (bản 1924), The Thief of Bagdad (bản 1940) và Arabian Nights (1974) nằm trong số "những tuyệt tác của điện ảnh thế giới".[18] Michael James Lundell gọi phim Il fiore là bản chuyển thể trung thành nhất với nguyên tác của Nghìn lẻ một đêm (nhấn mạnh mặt gợi dục trong truyện).

Âm nhạc

Nghìn lẻ một đêm đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của:
François-Adrien Boieldieu: Le calife de Bagdad (1800)
Carl Maria von Weber: Abu Hassan (1811)
Luigi Cherubini: Ali Baba (1833)
Peter Cornelius: Der Barbier von Bagdad (1858)
Ernest Reyer: La statue (1861)
C. F. E. Horneman (1840–1906), Aladdin (overture), 1864
Nikolai Rimsky-Korsakov: Scheherazade Op. 35 (1888) [20]
Dikran Tchouhadjian (1837-1898), Zemire (1891)
Henri Rabaud: Mârouf, savetier du Caire (1914)
Carl Nielsen, Aladdin Suite (1918–1919)
Renaissance: Scheherazade and Other Stories (1975)
Fikret Amirov: Arabian Nights (Ballet, 1979)
Ezequiel Viñao, La Noche de las Noches (1990)
Carl Davis, Aladdin
Kamelot, Nights of Arabia (1999)
Sarah Brightman, Harem and Arabian Nights (2003)
Ch!pz, "1001 Arabian Nights" (2004)
Nightwish, Sahara (2007)
Abney Park (band), Scheherazade (2013)

Những câu chuyện chính

Sheherazade đã kể cho nhà vua Shahryar nhiều câu chuyện nhỏ đan xen, móc xích vào nhau.

Bản dịch của Phan Quang gồm các truyện sau:

Nhà buôn và thần linh.
Chuyện cụ già thứ nhất và con hươu cái.
Chuyện cụ già thứ hai và hai con chó đen.
Chuyện người đánh cá.
Chuyện vua Hy Lạp và thầy thuốc Đubăng.
Chuyện người chồng và con vẹt.
Chuyện quan đại thần bị trừng phạt.
Chuyện nhà vua của các nước Đảo Đen.
Chuyện ba khất sĩ con vua và năm thiếu phụ ở Bátđa.
Chuyện khất sĩ thứ nhất - con vua.
Chuyện khất sĩ thứ hai - con vua.
Chuyện kẻ ghen ghét và người bị ghen ghét.
Chuyện khất sĩ thứ ba - con vua.
Chuyện nàng Zôbêit.
Chuyện nàng Amin.
Chuyện nhà đi biển Xinbát.
Chuyến đi biển đầu tiên của Xinbát.
Chuyến đi biển thứ hai của Xinbát.
Chuyến đi biển thứ ba của Xinbát.
Chuyến đi biển thứ tư của Xinbát.
Chuyến đi biển thứ năm của Xinbát.
Chuyến đi biển thứ sáu của Xinbát.
Chuyến đi biển thứ bảy và cũng là chuyến đi biển cuối cùng của Xinbát.
Chuyện ba quả táo.
Chuyện người đàn bà bị thảm sát và ông chồng trẻ.
Chuyện Nuarếtđin Ali và cậu con trai Bếtđơrếtđin Hatxan.
Chuyện chú gù.
Chuyện người buôn thiên chúa giáo kể.
Chuyện người tiếp phẩm của vua xứ Caxga kể.
Chuyện viên thầy lang Do Thái kể.
Chuyện gã thợ may kể.
Chuyện người thợ cạo.
Chuyện người anh cả của lão thợ cạo.
Chuyện người anh hai của lão thợ cạo.
Chuyện người anh ba của lão thợ cạo.
Chuyện người anh tư của lão thợ cạo.
Chuyện người anh năm của lão thợ cạo.
Chuyện người anh sáu của lão thợ cạo.
Chuyện Abu Hatxan Ali Ep Beca và ái phi của Khalip.
Thiên tình sử của Camaranzaman - hoàng tử đảo Những đứa con của Khalêđan, với Bađua - công chúa Trung Quốc.
Nuarếtđin và người đẹp Ba Tư.
Chuyện Bêđe - hoàng tử Ba Tư và Giauha - công chúa con vua thủy tề.
Chuyện chàng Ganem - con trai Abu Aibu, kẻ nô lệ của tình yêu.
Chuyện hoàng tử Zein Alsamn và chúa tể các thần linh.
Chuyện Côđađát và bốn mươi chín hoàng tử.
Chuyện nàng công chú Đêriaba.
Chuyện người ngủ mê thức dậy.
Chuyện Alađanh và cây đèn thần.
Chuyện những chuyến vi hành của Harun An Rasít.
Chuyện lão mù Baba Apđanla.
Chuyện Xiđi Numan.
Chuyện thương gia Hatxan - thợ bện thừng.
Chuyện Alibaba và bốn mươi tên cướp.
Chuyện Ali Côjia - nhà buôn thành Bátđa.
Chuyện con ngựa thần kỳ.
Chuyện hoàng tử Atmet và nàng tiên Pari-banu.
Chuyện hai người chị ganh tị với cô em út.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

Nghìn lẻ một đêm – chương 1
Antoine Galland
NÀNG SCHEHERAZADE

Nghìn lẻ một đêm 1125
Sử sách thời Sassanides, thời của những ông vua quốc gia Ba Tư cổ xưa, đất nước có biên cương mở rộng tới tận Ấn Độ và các đảo phụ thuộc lớn nhỏ, trải ra tới phía bên kia sông Hằng và phần đất rộng lớn của Trung Quốc bao la, chép lại rằng ngày xưa có một ông vua của cái quốc gia hùng mạnh đó, nổi tiếng là một đấng quân vương anh minh, đức độ. Ông vua này chẳng những được các thần dân tôn sùng kính mến vì tài năngvà tính cẩn trọng mà còn được các quốc gia lân bang nể sợ vì uy danh có một đạo quân thiện chiến và kỷ luật. Đức vua có hai hoàng tử. Hoàng tử anh tên là Schahriar có đầy đủ đức tính như cha, xứng đáng là người sẽ được kế tục ngôi báu. Hoàng tử em là Schahzenan cũng chẳng thua kém gì anh về mọi mặt.

Sau một thời gian dài trị vì trong vinh quang và thịnh vượng, đức vua cha già yếu thăng hà. Schahriar, hoàng tử anh lên ngôi. Theo luật của đất nước này, hoàng tử em Schahzenan không được xẻ chia quyền hành, đành phải sống như một dân thường. Không có một chút gì bất đồng đố kị, Schahzenan còn ra sức giúp đỡ anh làm cho anh lúc nào cũng vui vẻ hài lòng.

Nghìn lẻ một đêm 1219
Schahrlar vốn đã rất yêu quí em, nay lại thấy rõ thái độ vô tư của chàng nên lại càng mến trọng. Trong niềm xúc động hân hoan đó, Schahrlar quyết cắt đất Đại Tartarie và phong cho em làm vua quốc gia rộng lớn này. Hoàng tử em Schahzenan bèn từ biệt vua anh và lên đường nhậm chức. Chàng chọn Samarcande làm thủ phủ của đất nước.

Đã mười năm rồi, hai vị vua anh em đó xa nhau, khi vua Schahriar nảy ra ý muốn tha thiết được gặp lại em. Ông quyết định cử một sứ thần đi triệu em về triều. Thế là vị đại thần đầu triều cầm đầu sứ bộ cùng với cả một đoàn tuỳ tùng lên đường ngay. Khi tới gần thủ phủ Samarcande, vua Schahzenan được tin, đã cùng với các đại thần của triều đình mình, phẩm phục chỉnh tề ra nghênh đón. Vua xứ Tartarie tỏ ra hết sức vui mừng, trước hết thăm hỏi tình hình của đức vua anh. Sau khi thoả mãn yêu cầu của quốc vương xứ Tartarle, ngài tể tướng mới trình bầy mục đích của sứ bộ. Schahzenan vô cùng cảm động. Quốc vương bảo:

- Tể tướng, đức vua anh ta đã làm cho ta thật là vinh hạnh, ý muốn của Người đã làm ta vui sướng khôn cùng. Người muốn gặp lại ta, ta cũng rất nóng lòng được thấy mặt Người. Thời gian đã chẳng làm giảm đi tình nghĩa anh em của Người, thì ta cũng vậy, tình nghĩa anh em của ta đối với Người vẫn luôn luôn sâu đậm. Quốc gia ta luôn an bình, ta chỉ cần khoảng mười hôm để chuẩn bị và sẵn sàng lên đường cùng với nhà ngươi. Như vậy nhà ngươi cũng chẳng cần vào thành làm gì với khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy. Nhà ngươi cứ hạ trại tại đây, ta sẽ cho mang tới đầy đủ các thứ vật dụng và lương thực, thực phẩm cho ngươi và cho cả đoàn sứ bộ. Tất cả đều được mau chóng thực hiện.

Nhà vua vừa về tới Samarcande thì các thứ ùn ùn đưa tới: thức ăn, đồ uống với số lượng lớn lại thêm bao nhiêu là những tặng vật quí có giá trị cao.

Trong lúc đó, vua Schahzenan chuẩn bị lên đường, xử lý mau chóng các sự vụ còn tồn đọng, thành lập một hội đồng để cai trị đất nước trong thời gian đi vắng và đặt một vị đại thần tin cậy đứng đầu hội đồng đó. Trong vòng mười ngầy, mọi việc xong xuôi, nhà vua tạm biệt hoàng hậu, rời Samarcanđe vào buổi chiều cùng với cả đoàn các quan hộ giá, đến nghỉ tại hành cung cạnh những chiếc lều trại của quan tể tướng. Nhà vua cùng vị sứ thần đàm đạo tới khuya. Rồi, muốn một lần nữa nói lời tạm biệt với hoàng hậu mà chàng hết lòng yêu thương, nhà vua một mình quay lại cung điện. Chàng đi thẳng tới hậu cung. Hoàng hậu không ngờ nhà vua lại trở về bất ngờ như thế nên trước đó đã đón tiếp trên giường mình một viên quan hầu hạng bét trong nội cung. Chắc hẳn chúng đã nằm với nhau rất lâu rồi nên lúc này chúng ngủ say như chết.

Nhà vua nhẹ bước đi vào, rất thích thú là sẽ làm cho hoàng hậu mà nhà vua cho là yêu thương mình rất mực phải ngạc nhiên về sự trở về của mình. Nhưng biết bao sửng sốt, khi dưới ánh sáng những bó đuốc chẳng bao giờ tắt trong đêm tối ở những ngôi nhà của các ông hoàng bà chúa, nhà vua nhìn thấy một tên đàn ông nằm gọn trong cánh tay hoàng hậu. Ông đứng lặng người một lát không dám tin vào những gì mình thấy. Nhưng, chẳng còn nghi ngờ gì nữa.

- Sao? – Chàng tự nhủ – Ta vừa mới ra khỏi cung điện, và hãy còn ở dưới chân thành Samarcande mà người ta đã đám làm nhục ta? A, quân khốn kiếp. Tội ác của các ngươi không thể không bị trừng phạt! Là vua, ta phải trừng trị những sai trái xảy ra trong đất nước; là người chồng bị phản bội, ta phải xé xác ngươi để hả lòng căm giận chính đáng của ta.
Và rồi, vị vua bất hạnh này, không kìm được cơn giận xung thiên, rút kiếm ra, tiến đến gần chiếc giường ngự, chỉ bằng một nhát, đưa đôi gian phu dâm phụ từ giấc ngủ đến cái chết nhục nhã. Rồi lần lượt chàng thẩy xác chúng qua cửa sổ, rơi xuống hào sâu bao bọc xung quanh.

Trừng trị xong lũ đốn mạt, chàng ra khỏi kinh thành, lặng lẽ cũng như lúc về và lui vào hành cung. Rồi ngay lập tức chàng ra lệnh cuốn lều trại lên đường. Chuyện vừa xảy ra, chàng chẳng nói với một ai. Tất cả đều đã sẵn sàng, trời chưa sáng rõ, đoàn người khởi hành trong tiếng trống chiêng rộn rã làm toàn dân náo nức, trừ nhà vua. Vị hoàng đế này, đầu óc luôn bị cái cảnh phản bội của hoàng hậu ám ảnh, suốt trong cuộc hành trình luôn âu sầu phiền muộn.

Khi gần tới kinh thành đất nước Ấn Độ, nhà vua thấy hoàng đế Schahriar thân chinh cùng cả triều thần ra đón. Làm sao tả được niềm vui gặp gỡ của hai vị vua anh em này! Họ đều nhảy xuống ngựa để ôm chầm lấy nhau và sau khi đã thể hiện muôn ngàn dấu hiệu của tình cảm thương mến đậm đà họ lại lên ngựa và cùng đi vào thành trong những tiếng hoan hô vang dội của dân chúng tập trung đông vô kể. Hoàng đế dẫn nhà vua tới tận biệt điện đã chuẩn bị sẵn đành cho vua em. Cung điện này thông sang cung điện của hoàng đế Schahriar qua một mảnh vườn chung dùng làm nơi tổ chức các hội lễ, các cuộc vui chơi của triều đình. Và nhân dịp này khu vườn còn được trang trí thêm nhiều thứ vô cùng tráng lệ.
Schahriar hãy tạm chia tay với quốc vương xứ Tartarie để chàng tắm rửa và thay áo quần, nhưng ngay sau đó, hoàng đế đã tìm gặp lại em. Hai người cùng ngồi trên tràng kỷ, những cận thần đều kính trọng lùi ra xa. Hai vị quốc vương gắn bó với nhau không những vì tình cảm thân thương mà còn vì cùng huyết thống, được tự do dốc bầu tâm sự cho bỏ thời gian dài xa cách. Hai anh em cùng nhau dùng bữa tối rồi lại tiếp tục chuyện trò mãi đến lúc Schahrlar thấy đêm sắp tàn mới rút về hậu cung để em được nghỉ ngơi.

Vị vua em bất hạnh đi nằm. Nhưng lúc cùng vua anh đàm đạo, nỗi buồn có nguôi ngoai đôi chút thì lúc này lại khơi dậy mạnh mẽ. Lẽ ra phải thoải mái nghỉ ngơi để phục hồi sức khoẻ thì tâm trí chàng lại bị giày vò dữ dội. Hình ảnh phản bội bẩn thỉu của hoàng hậu hiện lên rõ mồn một trong trí nhớ làm tâm can chàng sôi sục. Rồi, không sao ngủ được, chàng ngồi lên, chìm đắm trong những ý nghĩ đau buồn. Nét ủ rũ của chàng hiện rõ trên khuôn mặt khiến vua anh trước đó cũng nhận thấy phải tự hỏi: “Quốc vương Tartarie làm sao thế nhỉ? Kẻ nào đã làm cho chú ấy phải rầu lòng? Phải chăng ta đã đón tiếp chú ấy không được chu đáo? Không, ta đã coi chú ấy như một người em mà ta vô cùng yêu mến, về khoản này thì ta thấy ta chẳng có gì đáng chê trách. Có thể em ta vì tạm xa cách đất nước và hoàng hậu, vợ chú ấy mà có tâm trạng nhớ nhung chăng? Ồ, nếu có phải vì thế mà em ta buồn thì ta sẽ trao ngay những tặng phẩm đã đành cho chú ấy, để bất cứ lúc nào muốn là chú ấy có thể lên đường trở về Samarcande!”. Và ngay ngày hôm sau ông gửi cho chàng một phần những tặng vật đó gồm những đồ quí hiếm thật độc đáo. Ngoài ra, hàng ngày, nhiều trò du hí được tổ chức để làm cho chàng nguôi vơi buồn nhớ. Nhưng những cuộc vui huy hoàng nhất, tráng lệ nhất cũng chẳng làm chàng khuây khoả mà lại càng như khơi gợi mối u buồn sâu sắc.

Một hôm hoàng đế Schahriar hạ lệnh mở một cuộc săn lớn trong một vùng có nhiều hươu nai cách kinh thành hai ngày đường. Quốc vương Schahzenan xin cho được miễn tham gia, viện cớ không được khoẻ. Hoàng đế chiều lòng để cho vua em được tự do, rồi cùng với cả triều thần lên đường giải trí. Sau khi vua anh đi rồi, quốc vương xứ đại Tartarie còn lại một mình, lui vào phòng riêng khép kín cửa lại. Chàng ngồi bên cửa sổ trông ra vườn ngự uyển. Khu vườn tráng lệ đầy tiếng chim hót này đáng lẽ làm cho chàng vui thích nếu còn có khả năng cảm thụ, nhưng luôn bị vò xé vì cái kỷ niệm não lòng về hành vi thất tiết của hoàng hậu nên chàng chẳng chú ý gì đến khu vườn mà luôn ngước mắt nhìn lên cao để than thầm cho số phận.

Nhưng, dù bị nỗi đau chi phối tới bao nhiêu, chàng cũng không sao không để mắt tới một sự kiện khác thường nó thu hút tất cả sự chú ý của chàng. Một cánh cửa bí mật bên cung điện của hoàng đế bỗng mở toang và từ đó lần lượt đi ra hai mươi người phụ nữ, giữa họ là hoàng hậu mà cung cách đi đứng làm ta rất dễ nhận biết. Hoàng hậu cho là quốc vương xứ Đại Tartarie cũng đã cùng đi săn với hoàng đế chồng mình nên đã bước đi một cách thật mạnh dạn tới tận gần cửa sổ phòng riêng của quốc vương em chồng. Quốc vương vì tò mò muốn biết cái gì sẽ xảy ra nên đã lui vào một chút để không bị nhìn thấy nhưng mình thì vẫn trông rõ mồn một cảnh ngoài vườn. Chàng nhận thấy bọn người tháp tùng hoàng hậu bắt đầu bỏ các tấm mạng tới lúc đó vẫn còn che mặt và cởi cả những áo dài khoác bên ngoài những bộ y phục ngắn. Nhưng chàng vô cùng kinh ngạc thấy đám người mà chàng tưởng toàn là phụ nữ thì lại có mười người con trai da đen, mỗi người ôm lấy người tình của mình. Về phần hoàng hậu cũng chẳng muốn chờ đợi lâu vội vỗ mạnh bàn tay và gọi to: “Masoud! Masoud!”. Và ngay lập tức một tên đàn ông da đen khác tụt từ trên một cây cao xuống, vội chạy đến với nàng.

Sự ngượng ngùng không cho phép ta kể lại tất cả những gì đã xảy ra giữa những người đàn bà và lũ đàn ông da đen này, đó là những chi tiết chẳng đáng quan tâm, chỉ biết là Schahzenan, mắt nhìn thấy cơ sự đó, nhận ra là hoàng đế anh mình cũng bất hạnh chẳng kém gì mình. Cuộc hoan lạc của đám người dâm loạn này kéo dài mãi tới nửa đêm. Cả bọn còn nhảy xuống cái hồ lớn vốn rất sạch đẹp trong vườn ngự uyển để tắm táp rồi sau đó mặc lại quần áo và biến mất sau cánh cửa bí mật của hoàng cung. Còn Masoud từ bên ngoài trèo qua tường để vào vườn thì lại đi ra bằng lối đó.

Vì tất cả những cảnh trên đây đều diễn ra trước mắt vị quốc vương xứ Đại Tartarie nên làm cho chàng suy nghĩ rất nhiều: “Ta thật là nông nổi – Chàng tự bảo – Đã cho là mình vô cùng bất hạnh? Đó chẳng qua là số mệnh khó lòng tránh khỏi của tất cả những ông chồng, ngay cả hoàng đế anh ta, vua của biết bao nhiêu quốc gia, chúa tể của toàn thiên hạ cũng còn không tránh khỏi kia mà. Đã là số mệnh thì can chi ta lại quá yếu đuối mòn mỏi trong phiền não u sầu? Thế là xong: hồi ức của một sự bất hạnh riêng từ nay không thể lũng đoạn cuộc sống yên bình của ta.”. Quả vậy, từ lúc đó chàng chẳng còn thấy quá khổ đau phiền muộn. Chàng đã chẳng thiết gì ăn uống nếu không được mục kích tất cả những gì xảy ra dưới cửa sổ phòng mình; lúc này chàng đòi ăn và ăn ngon miệng hơn cả kể từ ngày rời Samarcande, và còn lấy làm thích thú nghe những lời ca điệu nhạc du dương hoà tấu trong bữa ăn của chàng.

Những ngày tiếp theo, chàng hoàn toàn bình thản và khi biết hoàng đế anh từ cuộc đi săn đã trở về, chàng đi tới vui vẻ chúc mừng. Thoạt đầu, Schahriar chưa chú ý gì đến sự thay đổi này mà chỉ phàn nàn tiếc là quốc vương em đã bỏ lỡ cuộc săn thú vị và không để cho em kịp thanh minh, ông khoe đã săn bắt được một số lượng lớn hươu nai và các con thú khác cùng với sự vui thích được hưởng trong cuộc săn. Schahzenan chăm chú nghe rồi bắt đầu lên tiếng. Vì không còn nỗi buồn rầu ám ảnh làm thui chột cả trí thông minh sắc sảo, chàng nói năng thật hoạt bát lanh lợi và đầy tính trào lộng.
Đinh ninh em mình vẫn ủ rũ như lúc tạm chia tay để lên đường đi săn, hoàng đế vô cùng hài lòng thấy chàng thật vui vẻ. Ông bảo:

- Em ạ, ta cảm tạ trời đất đã làm cho em thay đổi tốt lành trong lúc ta không có mặt ở nhà. Ta thật là vui sướng, nhưng ta có một yêu cầu đối với em mong là sẽ được em đáp ứng.

- Em lại có thể từ khước anh một điều gì ư? – Nhà vua xứ Tartarie đáp – Với Schahzenan này, anh có đủ quyền lực. Anh nói đi, em đang nóng lòng muốn biết anh muốn em phảị làm gì.

- Từ khi em tới triều đình ta – Schahriar nói – Ta thấy em luôn luôn sầu muộn mà ta đã cố gắng xua đuổi bằng bao nhiêu trò vui chơi giải trí. Ta đã nghĩ là sự sầu muộn của em là do xa nhà, xa đất nước; ta cũng nghĩ là tình yêu chiếm phần lớn. Hoàng hậu ở Samarcande mà em đã lựa chọn ắt phải có một sắc đẹp tuyệt trần, có lẽ đó là nguyên nhân. Không biết là ta có bị nhầm trong sự suy đoán không, nhưng cũng phải thú thực là cũng vì thế mà ta chẳng muốn gặng hỏi sợ làm em chẳng vừa lòng. Thế mà, chưa một chút nhọc công nào chăm sóc, khi trở về ta lại thấy em vui vẻ nhất trần đời và tinh thần như đã được giải toả mọi nỗi ưu tư, nó đã làm vẩn đục cả vẻ vui tươi khoái hoạt của em. Hãy vui lòng nói cho ta rõ vì sao em hết sầu não buồn đau?

Nghe vua anh nói vậy, quốc vương xứ Đại Tartarie trầm lặng một lát như để suy nghĩ lời đáp. Rồi chàng nói:

- Anh là hoàng đế và cũng là người chủ của em, xin anh hãy miễn cho việc phải đáp ứng điều anh đòi hỏi, em van xin anh đấy.

- Không, em của ta – Hoàng đế nói – Em phải chiều ta. Ta mong muốn như vậy, chớ khước từ ta nữa.

Schahzenan không thể cưỡng lại sự gặng hỏi của Schahriar, đành nói:

- Vậy thì, anh của em? Vì anh đã ra lệnh, em đành phải làm theo ý muốn của anh thôi.

Rồi chàng kể lại sự phản bội, thất tiết của hoàng hậu Samarcanđe. Kể xong, chàng nói:

- Đó là nguyên nhân nỗi buồn đau của em. Phải chăng là em đã sai lầm khi để cho nỗi buồn đó chi phối?

- Ôi, em của tôi? – Hoàng đế kêu lên bằng giọng nhuốm vẻ thông cảm với nỗi buồn giận của quốc vương xứ Tartarie – Câu chuyện em vừa kể ta nghe mới khủng khiếp làm sao? Phải kiên nhẫn tới chừng nào ta mới nghe được tới cuối câu chuyện! Ta khen ngợi em đã trừng trị thích đáng những tên phản trắc đã xúc phạm em thật nặng nề. Không ai có thể trách cứ hành động đó: em đã xử sự thật công minh. Còn ta, thú thực nếu ở địa vị của em, có lẽ ta sẽ chẳng được chừng mực như thế đâu: Cắt đi mạng sống chỉ của một người đàn bà, đối với ta chưa đủ đâu. Ta nghĩ là có thể hàng ngàn đứa phải mất đầu trong cơn điên giận của ta kia. Ta không ngạc nhiên về nỗi buồn của em; nguyên nhân thật quá đắng cay, quá tủi nhục lẽ nào chẳng làm cho em ta suy sụp. Trời! Thật là đa đoan! Không, ta tin là chuyện đó chẳng còn có thể xảy ra với ai như đã xảy ra với em. Nhưng ta cũng phải đội ơn Thượng đế là đã cho em niềm an ủi mà ta tin là có căn cứ vững chắc. Vậy thì em hãy vui lòng cho ta biết đi, hãy cùng ta cạn dòng tâm sự.

Schahlenan thấy vô cùng khó khăn đáp ứng điều này hơn điều đã nói về mình vì đây lại liên quan tới người anh, nhưng cũng đành phải nhượng bộ vì những lời khẩn thiết của ông.

- Em xin phục tùng – Chàng nói – Vì anh đã kiên quyết muốn biết rõ nguyên nhân. Em sợ là sự phục tùng của em sẽ gây cho anh nhiều phiền muộn mà trước đây em đã phải chịu. Nhưng anh chỉ tự trách được mình thôi vì chính anh đã buộc em phải tiết lộ ra một chuyện mà em đang muốn chôn vùi trong lãng quên vĩnh viễn.

- Điều em nói đó – Schahriar ngắt lời em – Lại càng làm ta háo hức muốn biết. Hãy mau hé mở cho ta tấm màn bí mật đó đi, muốn ra sao thì ra.

Vua xứ Tartarie không còn đất để lùi nữa, đành phải thuật lại tất cả những gì chàng trông thấy về sự cải trang của những tên da đen, về sự dâm loạn của hoàng hậu và các thị nữ của bà và chàng không quên nói đến cái tên Masoud.

- Sau khi chứng kiến tất cả những cảnh xấu xa nhơ bẩn đó – Chàng nói tiếp – em nghĩ là tất cả đàn bà đều như thế cả thôi, họ khó có thể cưỡng lại được dục vọng. Em như được cảnh tỉnh, thấy ra là: đối với một trang nam nhi thật là quá hèn yếu nếu để cho sự an bình của mình phụ thuộc vào lòng chung thuỷ của họ: ý nghĩ này đưa em đến nhiều suy tư khác và cuối cùng em thấy là không gì tốt hơn là tự mình an ủi mình. Khó khăn thật đấy, nhưng em đã thành công. Nếu tin em thì anh hãy làm như em vậy.

Mặc dù lời khuyên đó thật là khôn ngoan đúng mực, nhưng hoàng đế không thể chấp nhận mà còn nổi giận đùng đùng:

- Sao? – Ông thét lên – Chánh cung hoàng hậu của đất nước Ấn Độ rộng lớn mà lại sa đoạ tới mức đê nhục đó ư? Không, em ạ – Ông thêm – Ta không thể tin được những gì em đã nói nếu ta không được nhìn thấy tận mắt. Chắc là em đã nhìn nhầm đấy thôi. Sự việc nghiêm trọng đáng để cho ta phải tự mình khẳng định.

- Anh ạ – Schahzenan nói – Nếu anh muốn mục kích cũng chẳng có gì khó khăn lắm đâu. Anh chỉ việc tổ chức một cuộc đi săn mới. Khi chúng ta đã ra ngoài kinh thành cùng với các triều thần cả của anh và của em, chúng ta sẽ dừng lại ở hành cung và đến đêm cả hai anh em ta sẽ trở về nơi biệt điện dành cho em. Em đoán chắc là ngày hôm sau anh sẽ thấy tất cả những gì em đã thấy.

Hoàng đế tán thành kế hoạch đó và lập tức ra lệnh tổ chức một cuộc đi săn mới, vì vậy các lều trại lại được dựng lên nơi đã được qui định.

Ngày hôm đó cả hai vị vua lên đường cùng với cả hai đoàn tuỳ giá. Họ tới nơi đã định trước và ở đó cho tới đêm. Lúc bấv giờ Schahriar cho đòi tể tướng tới và chẳng cần cho biết ý đồ của mình, ra lệnh cho ông này tạm quyền và không được để bất cứ người nào ra khỏi trại với bất cứ lý do gì. Ra lệnh xong, quốc vương xứ Đại Tartarle cùng với hoàng đế lên ngựa, bí mật rời khỏi trại, đi về kinh thành, tới hoàng cung, vào cung điện dành cho Schahzenan. Họ đi ngủ và ngày hôm sau, sáng tinh mơ, họ tới ngồi kín đáo bên cửa sổ, nơi mà quốc vương Tartarie đã nhìn thấy cảnh bọn đa đen giở trò dâm loạn. Họ cùng hưởng một lát không khí mát mẻ của buổi ban mai vì lúc đó mặt trời chưa lên; và vừa khẽ trao đổi chuyện trò vừa thi thoảng liếc mắt sang chiếc cửa bí mật bên kia khu vườn ngự uyển. Cuối cùng, cửa mở và chuyện xảy ra tương tự, hoàng hậu xuất hiện cùng đám thị nữ với mười tên da đen cải trang; mụ kêu tên Masoud và hoàng đế nhìn thấy tất cả những gì đã làm nên nỗi nhục nhã và sự bất hạnh của mình.

- Ôi Thượng đế! – Ông kêu lên – Nhục nhã biết chừng nào! Kinh tởm biết chừng nào! Vợ của một ông vua như ta đây sao lại có thể sa đoạ đê tiện tới mức ấy? Sau sự ô nhục này, còn có vị hoàng đế nào dám khoe khoang là mình hạnh phúc hoàn toàn nữa không? Ôi, em của ta! – Ông ôm lấy quốc vương Tartarie và nói tiếp – Chúng ta hãy từ bỏ tất cả các thứ trên thế giới này, thiện tâm thiện ý đâu còn; xu nịnh đi đôi với phản trắc. Hãy từ bỏ tất cả đất đai sông núi và tất cả sự phù hoa hào nhoáng quanh ta. Chúng ta hãy cùng đi tới những xứ sở xa lạ kéo dài một cuộc sống tối tăm và giấu biệt đi nỗi bất hạnh khổ ải của chúng ta.

Schahzenan không đồng tình với quyết định đó nhưng chàng chẳng dám đấu tranh vì thấy anh mình còn đang trong cơn nóng giận sục sôi.

- Anh của em – Chàng nói – Em cũng không có ý kiến gì khác anh đâu. Em sẵn sàng đi theo anh bất cứ nơi nào anh muốn, nhưng xin anh hãy hứa với em là chúng ta sẽ trở về nếu được gặp một người nào đó còn khổ sở hơn cả chúng ta nữa.

- Anh hứa – Hoàng đế đáp – Nhưng ta nghĩ là chúng ta sẽ chẳng tìm thấy một ai như thế cả đâu.

- Em chưa đồng tình với anh ở chỗ đó – Quốc vương Tartarie phản bác – Có thể là chúng ta chẳng phải đi lâu đâu.

Rồi họ bí mật rời hoàng cung và đi bằng con đường khác với lúc đi về. Họ đi, đi mãi chừng nào ánh sáng còn cho họ thấy rõ con đường, và đêm đầu tiên họ ngủ dưới bóng cây. Dậy từ sáng sớm, họ lại tiếp tục đi cho đến lúc tới một bãi cỏ xanh rờn bên bờ biển mà ở đó từng quãng từng quãng một có những cây to cành lá rậm rạp. Họ ngồi dưới một trong các cây đó để nghỉ ngơi và hóng mát. Sự bội phản và thất tiết của các hoàng hậu lại là đề tài của cuộc chuyện trò tâm sự.

Chưa được bao lâu thì chợt họ nghe thấy ngay cạnh họ một tiếng động khủng khiếp về phía biển và tiếp theo đó là những tiếng kêu thất thanh làm họ run sợ. Mặt biển bỗng mở ra và dâng lên một cái cột đen khổng lồ cao chạm đến các tầng mây. Cái vật lạ này làm cho họ kinh hoảng khiếp vía, vội bật đậy, lanh lẹn leo lên cây, trèo thật cao, theo họ thì đó là chỗ ẩn nấp thích hợp nhất. Vừa mới lên vị xong, họ ngoảnh lại nơi vừa phát ra tiếng động làm cho mặt biển như mở ra đó liền thấy cái cột đen từ từ rẽ nước tiến vào bờ. Lúc đầu họ không thể phân biệt được đó là cái gì, nhưng chẳng mấy chốc đã trông thấy rõ ràng.

Đó là một trong các hung thần tinh ma độc ác, là những kẻ tử thù của loài người. Hắn đen đủi và xấu xí, có thân hình của một người khổng lồ cao to lừng lững, đội trên đầu một cái hòm thuỷ tinh có nắp đóng lại bằng bốn chiếc khoá thép. Hắn đi vào bãi cỏ và đặt cái hòm đúng chỗ gốc cây, cái cây mà hai anh em nhà vua vừa trèo lên nấp. Hai anh em cảm thấy nguy hiểm cùng cực, tưởng là phen này thì đi đứt.

Tuy vậy hung thần chỉ từ từ ngồi xuống cạnh chiếc hòm, rút chùm chìa khoá dắt ở thắt lưng lần lượt mở hòm ra bằng bốn chiếc chìa. Ngay tức thì từ trong hòm bước ra một người đàn bà y phục lộng lẫy, thân hình thanh tú, đẹp tuyệt trần. Lão hung thần đặt nàng ngồi bên cạnh, say sưa ngắm người đẹp và nói.

- Phu nhân của ta, một người đẹp hơn tất cả những người đẹp được mọi người chiêm ngưỡng ơi! Con người duyên dáng mà ta đã cướp đi giữa ngày hôn lễ, người mà ta luôn mãi yêu thương, nàng hãy cho ta ngủ một lát bên nàng; chính vì ta rất buồn ngủ nên đã tới đây để nghỉ ngơi một chút.

Nói xong, hắn ngả cái đầu nặng nề của hắn lên đùi của nàng thiếu phụ. Rồi, duỗi thẳng đôi chân chạm tới mép biển, hắn ngủ tức thì. Tiếng ngáy của hắn vang dội cả một vùng biển.

Người thiếu phụ tình cờ ngước mắt nhìn lên, trông thấy hai nhà vua tít trên gần ngọn cây, liền dùng tay ra hiệu bảo hai người xuống và đừng gây tiếng động. Hai chàng vô cùng sợ hãi khi thấy mình bị lộ. Cũng bằng dấu hiệu tay, họ xin miễn cho việc phải trèo xuống. Nhưng mà nàng, sau khi nhẹ nhàng nâng đầu lão hung thần trên đùi mình xuống đất, đứng lên khẽ bảo họ giọng sôi nổi:

- Xuống đi nào! Nhất thiết các chàng phải xuống đây với em.

Hai anh em gắng sức làm cho nàng ta hiểu, cũng bằng những cử chỉ, là rất sợ lão hung thần.

- Nào thôi xuống đi! – Cũng vẫn bằng giọng khẽ khàng và sôi nổi, nàng nói như ra lệnh – Nếu các chàng không nghe lời em ngay, em sẽ đánh thức hắn đậy và tự em sẽ bảo hắn giết các chàng.

Câu nói làm cho hai nhà vua sợ hãi, vội vàng nhưng rất thận trọng tụt xuống để khỏi làm lão hung thần thức giấc. Khi họ đã ở trên mặt đất, thiếu phụ nắm lấy tay hai người kéo đi và khi đã xa xa một chút, dưới hàng cây, nàng ta trơ trẽn bắt họ phải lần lượt chiều mình. Mới đầu hai người khước từ nhưng bị bắt buộc và đe doạ đủ điều nên đành phải làm theo. Sau khi đã được thoả mãn theo ý muốn, nhìn thấy các chàng đều có một chiếc nhẫn ở ngón tay, nàng ta đòi lấy. Khi đã nắm hai chiếc nhẫn trong tay, nàng ta lấy ra một cái hộp trong túi đựng đồ trang sức, kéo ra một sợi dây buộc những chiếc nhẫn khác đủ các loại, các kiểu, chỉ cho hai người và hỏi:

- Các chàng có biết các nhẫn này có ý nghĩa gì không?

- Không – Họ đáp – Nhưng chắc là nàng sẽ cho chúng tôi biết chứ.

- Đó là những chiếc nhẫn của tất cả những người đàn ông đã cùng em ân ái – Nàng thản nhiên nói – Đã có chín mươi tám chiếc đã đếm kỹ mà em giữ làm kỷ niệm. Em đòi nhẫn của hai chàng cũng là với ý ấy và để cho tròn một trăm. Như vậy – Nàng nói tiếp – Tính tới hôm nay là em đã có tròn một trăm tình nhân, dù có sự canh giữ ráo riết và sự đề phòng cẩn mật của cái lão hung thần xấu như ma kia lúc nào cũng giam riết lấy em trong cái hòm thuỷ tinh khoá kín, nhưng dù có cất giấu em dưới đáy biển, em vẫn thoát được ra ngoài sự kiểm soát của lão. Các chàng hẳn thấy rõ là khi một người đàn bà đã có một ý định gì thì không một người chồng nào, một tình nhân nào có thể ngăn cản được. Tốt hơn là người đàn ông chẳng nên ép buộc và cưỡng bách đàn bà, có thế thì người đàn bà mới có thể trở nên người tiết hạnh.

Nói đoạn, người thiếu phụ xâu hai chiếc nhẫn vào cùng một dây với những chiếc nhẫn khác. Rồi nàng ngồi vào chỗ cũ, nhẹ nhàng nâng đầu lão hung thần vẫn ngủ say lên đùi mình, rồi ra hiệu cho hai chàng đi.

Hai nhà vua trở lại con đường đã đi tới và khi khuất tầm nhìn của người thiếu phụ và lão hung thần, Schahriar bảo Schahzenan:

- Này em? Em nghĩ gì về chuyện vừa xảy ra với chúng ta? Phải chăng lão hung thần đã có một cô tình nhân thật là chung thuỷ? Và em có công nhận với anh là không gì có thể sánh được với sự tinh ma quỉ quái của đàn bà?

- Thưa anh, đúng như vậy – Quốc vương xứ Đại Tartarie đáp – Và chắc anh cũng phải nhất trí với em là lão hung thần thật đáng được phàn nàn vì còn bất hạnh hơn cả chúng ta. Vậy là chúng ta đã thấy điều đang muốn tìm kiếm. Hãy trở về thôi anh ạ và chuyện này cũng chẳng có gì ngăn cản chúng ta trong hôn phối. Với em, em đã biết cách giữ trọn niềm tin của mình như thế nào. Lúc này, em chưa muốn nói ra đây nhưng rồi anh sẽ biết tin và chắc chắn là anh cũng sẽ làm theo như em.

Hoàng đế tỏ vẻ đồng tình và tiếp tục cùng em rảo bước. Họ về tới nơi hạ trại vào cuối đêm thứ ba kể từ ngày đi.

Tin hoàng đế trở về được loan báo, các đại thần tề tựu từ sáng sớm trước hành cung. Nhà vua với họ vào, vui vẻ tiếp đón họ khác hẳn ngày thường và tặng thưởng cho tất cả mọi người. Sau đó nhà vua tuyên bố chẳng muốn đi xa hơn nữa, lệnh cho họ lên ngựa, và chẳng mấy chốc về tới hoàng cung.

Vừa đặt chân xuống đất, hoàng đế lập tức đến hậu cung bắt trói ngay hoàng hậu, trao cho tể tướng đem đi xứ giáo. Viên đại thần nầy lập tức thi hành cũng chẳng hỏi xem bà ta đã phạm tội gì. Vị hoàng đế đang cơn giận dữ không chỉ bằng lòng có thế, ông tự tay mình chặt đầu tất cả những thị nữ của hoàng hậu. Sau sự trừng phạt nghiêm khắc đó, đinh ninh là trên đời này chẳng có một người đàn bà nào tiết hạnh, nhà vua quyết định mỗi tối lấy một vợ, ngủ với người đó và sáng ra thì đem đi thắt cổ để tránh cho người đàn bà này khỏi có hành động phản bội, thất tiết với mình. Đặt ra cái luật ác độc nghiệt ngã đó rồi, hoàng đế thề là sẽ thi hành ngay sau khi quốc vương Tartarie lên đường về nước. Chẳng bao lâu vua em cũng từ biệt anh lên đường mang theo nhiều tặng vật quí hiếm và sang trọng. Schahzenan đi rồi, Schahrlar tức thì lệnh cho tể tướng đưa đến cho mình cô con gái của một trong các võ tướng của triều đình. Tể tướng tuân lệnh. Hoàng đế ngủ với cô gái đó và sáng hôm sau trao lại cho tể tướng mang đi xử tử, đồng thời truyền cho kiếm một cô gái, con một vị đại thần khác cho tối tiếp theo. Dù bất bình và khổ tâm đến đâu khi phải thi hành những mệnh lệnh như thế, tể tướng vẫn phải nhắm mắt phục tùng. Ông đưa tới cho hoàng đế con gái của một võ quan cấp dưới mà hôm sau người ta lại đưa đi hành quyết. Sau cô gái này đến lượt con gái của một nhà giàu trong kinh thành và cứ như vậy mỗi ngày có một trinh nữ lấy chồng và một người vợ đi sang thế giới bên kia.

Tiếng đồn của hành động tàn bạo chưa từng có đó đã gây nên một sự kinh hoàng khắp chốn kinh thành. Vang lên khắp nơi tiếng kêu la, than khóc: nơi này là một người cha chan hoà nước mắt trong tuyệt vọng vì mất đứa con gái yêu; chỗ kia là những bà mẹ hiền lành, rên rỉ thảm thiết sợ con gái mình rồi cũng sẽ rơi vào số phận bi thương như thế. Vì vậy, thay vào những lời ngợi ca và chúc phúc mà vị hoàng đế thường nhận được từ trước đến nay là những tiếng trách oán của muôn dân.

Vị tể tướng mà chúng ta đã biết, ngoài ý muốn của mình đã phải thi hành một lệnh bất công khủng khiếp.Ông này cũng có hai cô con gái: cô chị là Scheherazade và cô em là Dinarzade.

Tài sắc cô em cũng chẳng thua kém gì chị, nhưng lòng can đảm của cô chị thì vượt hơn hẳn mọi người và trí thông minh thì vô cùng sắc sảo. Nàng đọc sách rất nhiều và có một trí nhớ lạ kỳ. Tất cả những gì đã đọc đều ghi sâu trong óc. Nàng đặc biệt có năng khiếu về các lĩnh vực triết học, y học, sử học và mỹ thuật. Nàng làm thơ có hồn hơn cả các nhà thơ nổi tiếng đương thời. Ngoài ra, nàng còn có một sắc đẹp lộng lẫy và một đức hạnh kiên trinh bao trùm lên tất cả những tài hoa đó.

Tể tướng yêu thương rất mực người con gái thực xứng đáng với tình cảm cao đẹp của mình. Một hôm, trong cuộc chuyện trò của hai cha con, nàng nói:

- Cha ơi, con có một điều muốn cầu xin. Con thiết tha mong được cha cho phép.

- Cha chẳng bao giờ từ chối con điều gì – Ông nói – Miễn là điều con cầu xin phải chính đáng và hợp lẽ phải.

- Là chính đáng – Scheherazađe thưa – Thưa cha, không có gì chính đáng hơn. Cha có thể xét nguyên cớ nó bắt con phải cầu xin cha. Ý đồ của con là muốn ngăn chặn hành vi man rợ của hoàng đế đối với các gia đình trong kinh thành này. Con muốn làm tiêu tan nỗi lo chính đáng mà bao bà mẹ đang chịu đựng là mất con gái mình một cách bi thảm.

- Con gái ơi, ý định của con thật vô cùng đáng khen – Tể tướng nói – Nhưng tai hoạ mà con muốn hoá giải thì cha thấy có thể là vô phương con ạ. Con định liệu thế nào để có thể làm được đến nơi đến chốn?

- Cha ạ – Scheherazade nói – Vì qua sự sắp đặt của cha mà hoàng đế mỗi ngày lại làm một cuộc hôn nhân mới, con xin cha, với tấm lòng yêu thương con gái, cha hãy tạo cho con cái vinh hạnh được hầu hạ đức vua…

Vị tể tướng không sao ngăn được sự kinh hãi khi nghe những lời trên đây của con gái.

- Ôi Chúa ơi? – Ông giận dữ ngắt lời con – Con điên rồi hay sao đấy? Sao con lại có thể cầu xin ta một điều dại dột nguy hiểm như vậy? Chắc con cũng biết là nhà vua đã thề độc là chỉ ân ái một đêm với chỉ một người đàn bà rồi sẽ giết đi ngay ngày hôm sau, thế mà con còn xin cha cho được làm vợ Người ư? Con có nghĩ là sự nông nổi bộp chộp sẽ đưa mình đến đâu không?

- Có, thưa cha – Cô gái đức hạnh đáp – Con biết tất cả sự hiểm nguy mà con dấn thân vào, nhưng con chẳng sợ. Nếu con chết đó là cái chết vinh quang và nếu thành công thì con đã phục vụ cho đất nước một công tích quan trọng.

- Không – Tể tướng nói – Dù con có cố sức trình bày để ta mềm lòng cho phép con dấn thân vào vòng hiểm nguy ghê gớm này, đừng tưởng rằng ta bằng lòng đâu nhé. Khi hoàng đế ra lệnh cho ta phải cắm mũi dao nhọn sắc vào tim con, than ôi! Nhất định ta phải tuân theo rồi: đau đớn sao cái công việc của một người cha! Ôi! Nếu con không chút nào sợ cái chết, thì ít nhất cũng tránh cho cha nỗi đau xé ruột khi thấy bàn tay mình nhuốm máu con gái yêu thương của chính mình.

- Một lần nữa, thưa cha – Scheherazade nói – Xin người hãy gia ân đáp ứng lời cầu xin của con.

Cuối cùng, người cha trước sự kiên quyết của con gái, đành phải nhượng bộ trước những lời khẩn cầu tha thiết của cô. Và hết sức não lòng vì không làm được cho con gái từ bỏ một quyết định khốc hại, ông tới bệ kiến Schahriar và tâu cho nhà vua biết đêm sau ông sẽ đưa tới cho Người nàng Scheherazade, con gái ông.

Hoàng đế vô cùng ngạc nhiên về sự hy sinh của vị đại thần thân cận của mình. Ông bảo:

- Làm sao mà nhà ngươi lại có thể quyết định đưa chính con gái ngươi đến cho ta?

- Tâu bệ hạ – Tể tướng đáp – Chính con gái thần đã tự nguyện. Số phận bi thảm chờ nó cũng chẳng làm cho nó sợ hãi, mà chỉ muốn trong đời vinh dự được có một đêm làm vợ đấng Chí tôn.

- Nhưng, Tể tướng, mong nhà ngươi cũng chớ có nhầm tâm – Hoàng đế nói – là sáng mai, lúc trao trả Scheherazade vào trong tay nhà ngươi, ta muốn là ngươi phải giết nàng. Nếu làm sai, ta thề là sẽ tự tay ta xử tử nhà ngươi.

- Tâu bệ hạ – Tể tướng lại nói – Lòng thần chắc chắn là xót đau vô hạn khi phảl tuân lệnh vua. Mặc dù vậy tấm lòng trung thành này với Người vẫn không hề bị chuyển lay.

Schahriar nhận sự dâng hiến của tể tướng và bảo ông cứ đưa con gái tới khi nào cũng được.

Vị quan đại thần này đưa tin về cho Scheherazađe. Nàng vui mừng đón nhận như một điều hạnh phúc nhất đời Nàng cảm ơn cha đã hết lòng ưu ái đối với nàng và khi thấy cha ảo não khổ đau, nàng nói để an ủi cha là ông sẽ không phải hối tiếc là đã gả nàng cho hoàng đế, ngược lại ông có thể lấy đó làm niềm vui hưởng thụ cho đến hết đời.

Nàng chỉ còn nghĩ đến việc phải sửa soạn thật chu đáo để ra mắt đấng quân vương. Nhưng trước khi rời nhà để vào hoàng cung, nàng gọi riêng Dinarzađe ra và nói với em:

- Em thân yêu của chị, chị cần sự giúp đỡ của em trong một vụ việc vô cùng quan trọng, chị xin em chớ có chối từ. Cha chúng ta sắp đưa chị vào hoàng cung để làm vợ nhà vua. Mong là tin này không làm em khiếp sợ. Hãy lắng nghe chị nói nhé. Khi chị đã vào trong cung, trước mặt hoàng đế chị sẽ xin Người cho em cũng được vào cung và ở cùng phòng để chị em mình được cùng nhau sum họp một đêm cuối cùng. Nếu được sự ân sủng như chị mong muốn đó thì em nhớ là sẽ đánh thức chị dậy vào lúc chỉ độ còn một tiếng đồng hồ nữa là trời sáng và nói với chị như thế này: “Chị của em ơi, nếu chị không ngủ nữa thì em xin chị, trong lúc chờ mặt trời lên chắc cũng chẳng còn bao lâu nữa, chị hãy kể cho em nghe một trong những câu chuyện thật hay mà chị biết”. Thế rồi chị sẽ kể cho em nghe một chuyện. Và chị tin rằng bằng cách này chị sẽ giải thoát cho toàn dân tình trạng kinh hoàng như hiện nay. Dinarzade trả lời chị là nàng sẽ vui lòng làm tất cả những gì mà chị nàng yêu cầu.

Cuối cùng giờ ngủ đã tới. Ngài tể tướng đưa Scheherazade vào hoàng cung và rút lui ngay sau khi đã dẫn nàng tới tẩm phòng. Lúc nhà vua thấy chỉ còn mình với nàng, liền bảo nàng bỏ mạng che mặt. Nhà vua sững sờ say đắm thấy nàng quả là chim sa cá lặn, nhưng thấy nàng đầm đìa nước mắt bèn hỏi nguyên nhân.

- Tâu bệ hạ – Scheherazade thưa – Thần thiếp có một em gái mà thiếp vô cùng yêu quí và cũng được em thiếp yêu quí như vậy. Thiếp mong ước là em thiếp cũng được qua đêm nay trong phòng ngự này để chị em được trông thấy nhau và để thiếp được nói với em một lần nữa lời vĩnh biệt. Bệ hạ có đồng ý cho thiếp có niềm an ủi bằng việc thể hiện với em lần cuối cùng tình chị em thân thiết đó không?

Schahriar chấp thuận và cho đi tìm Dinarzade. Cô em mau chóng tới ngay. Hoàng đế cùng với Scheherazade nằm ngủ trên một cái bệ rất cao theo cung cách của các vua chúa phương đông. Còn Dlnarzade thì nằm trên một chiếc giường được đặt dưới thấp kê ngay bên bệ.

Một tiếng đồng hồ trước khi trời sáng, Dinarzade thức giấc, không quên điều chị nàng căn dặn:

- Chị thân yêu của em – Nàng khẽ kêu – Nếu chị không còn ngủ nữa thì em xin chị, trong lúc chờ mặt trời chẳng mấy chốc nữa sẽ nhô lên, hãy kể cho em nghe một trong những chuyện thật hay mà chị biết. Than ôi? Có thể đây sẽ là lần cuối cùng mà em có được niềm vui sướng đó.

Scheherazade đáng lẽ trả lời em thì lại nói với hoàng đế:

- Tâu bệ hạ, đấng chí tôn có vui lòng cho phép thần thiếp được thoả mãn lời yêu cầu của em thiếp chăng?

- Ta vui lòng – Hoàng đế đáp.

Thế rồi Scheherazađe bảo với em gái hãy lắng nghe và quay lại với Schahriar, nàng bắt đầu câu chuyện như sau…

      

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Quyền hạn của bạn

Bạn không có quyền trả lời bài viết
free counters



  • Đoàn Ngọc Khánh

    mobile phone 098 376 5575


    Đỗ Quang Thảo

    mobile phone 090 301 9666


    Nguyễn Văn Của

    mobile phone 090 372 1401


    IP address signature
    Free forum | © PunBB | Free forum support | Liên hệ | Báo cáo lạm dụng | Thảo luận mới nhất