Change background image
LOVE quotion

Bắt đầu từ 4.53' thứ Hai ngày 17/10/2011


You are not connected. Please login or register

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Old
Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính : Nam

Bài viết : 571

Danh vọng : 916

Uy tín : 16

Phần 1

Năm 1983, tôi tham gia công trình T83 của Cục Tác Chiến, sang năm 1984 mọi việc cũng đã tạm ổn. Một hôm, tôi gặp anh bạn Phùng Hưng học Bách khoa Hà Nội với tôi, lúc này đang làm việc ở văn phòng BTTM. Anh to nhỏ với tôi: "Sắp tới có một lớp bổ túc 6 tháng ở Học viện Thông tin liên lạc của Liên Xô về tác chiến điện tử -TCĐT và một lớp bổ túc 6 tháng ở Học viện Hải quân Liên xô, tao với mày cố kiếm 1 suất đi để còn có cơ hội “cứu nước, cứu nhà”. Hồi này việc đi nước ngoài có nhiều mục đích “sâu xa” lắm. Tôi cũng muốn đi một chuyến. Thực ra tôi cũng đã đi nước ngoài, đó là năm 1971 khi hành quân vào Nam, tôi có đi qua Lào và đóng quân ở Campuchia hơn 1 năm. Nhưng đi nước ngoài theo nghĩa là “đi Tây” thì chưa bao giờ. Lúc này chúng tôi đã vợ con đùm đìa rồi, đi 6 tháng là vừa, đi lâu quá cũng chán. Nhất là kinh tế đang quá khó khăn, đi Tây một chuyến có khi đổi đời nên tôi khá háo hức. Ông bạn Hưng xoay trở thế nào không biết nhưng trong đoàn đi Học viện Thông tin có 2 người của Cục Tác chiến là anh Vinh và tôi. Anh Vinh lúc này là đại tá 3 sao (hồi này quân đội ta theo Liên Xô bỏ cấp thượng tá 3 sao nên mấy ông thượng tá được là đại tá), ở phòng Quân chủng và sẽ được “cơ cấu” làm trưởng phòng “Tác chiến điện tử” của Cục trong tương lai. Còn tôi là thiếu tá trợ lý kỹ thuật của phòng Sở chỉ huy. Tôi mới về phòng năm 1982 và công việc ở đây rất phù hợp với tôi, tình cảm anh em trong phòng cũng rất tốt, nhất là với anh Tâm trưởng phòng nên khi quyết định đi học bổ túc tác chiến điện tử tôi khá phân vân. Tôi trao đổi với anh Hưng: đi chuyến này về chắc chắn tôi phải chuyển sang ngành TCĐT, mà đi khỏi phòng SCH và công việc ở đó tôi thật sự không muốn. Anh Hưng nói: "Có cơ hội, cứ đi đã, về tính sau. Không đi chuyến này làm sao cải thiện được kinh tế gia đình". Quả thực vợ chồng tôi đang khó khăn, vì mới ra ở riêng nhà cửa không có, vợ chồng con cái đang ở chung với 4 người nhà ông anh vợ trong một căn phòng 14m2 ở Kim Liên. Vợ tôi đang dạy ở Khoa Dệt - May Đại học Bách khoa HN và đang xin nhà của trường, có khả năng sẽ được phân một gian nhà 3x6m mái lợp giấy dầu và vách ngăn bằng cót ép, ở nhà kiểu này thường có chuyện quanh năm nằm cạnh vợ hàng xóm vì hai nhà kê 2 giường sát nhau, cách 1 tấm cót mỏng, nhà này vợ nằm sát vách, nhà kia chồng nằm sát vách nên mới có chuyện vậy. Các nhà ở đó đang lên kế hoạch xây lại, nhà trường sẽ cho ngói lợp còn đâu phải tự lo. Vậy là chuyện lo tiền xây nhà trông chờ cả vào chuyến đi Tây này đây.

"Thế là tôi đã đi Tây" - hồi ký của Trần Thắng Tran-t10
Tôi cũng xin nói thêm thế này, năm 1977 tôi ở Quân Đoàn 4 ra Bắc và về công tác ở Viện kỹ thuật thông tin BTLTT, cuối năm 1977 tôi lấy vợ. Lúc này ở nhà bố mẹ tôi chỉ có hai vợ chồng tôi ở cùng. Cuối năm 1978, vợ tôi sinh cháu đầu. Chiến tranh đã lan rộng ở biên giới phía Nam và biên giới phía Bắc đang cực kỳ căng thẳng. Tôi rất bận và phải đi công tác suốt. Sang năm 1980, 1981 các em tôi lần lượt về, đứa từ nhà máy chuyển về HN, đứa đi học ở Bungari về, đứa từ đơn vị về tập trung đi học văn hóa. Nhà tôi trở nên đông đúc. Ngoài nhà tôi, bố tôi còn 1 "bộ sậu" gồm thư ký, lái xe, cấp dưỡng, cần vụ đều ở cả đấy. Vợ chồng tôi quyết định xin bố mẹ cho ra ở riêng để giảm tải cho cả nhà vì chúng tôi hy vọng mình có đủ tiêu chuẩn xin nhà nhất. Chúng tôi thu xếp ở tạm cùng với vợ chồng anh Hào. Năm 1982, tôi về phòng Sở chỉ huy Cục tác chiến. Tôi bắt đầu tìm hiểu việc xin nhà ở đơn vị và thấy có lẽ còn rất lâu mới được vì lúc đó tôi mới là đại úy. Nhưng vợ tôi lại có triển vọng. Sau khi vợ tôi làm đơn xin nhà, tôi làm đơn xác nhận đơn vị chưa cấp nhà, trường đi kiểm tra chỗ vợ chồng tôi ở nhờ… đến khoảng đầu năm 1984, trong danh sách cấp nhà của trường, vợ tôi có tên. Thật mừng vô kể.

Trần Thắng

(còn tiếp)
http://www.cuuhvlq2.tk
      
Old
Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính : Nam

Bài viết : 571

Danh vọng : 916

Uy tín : 16

Phần 2

Vào khoảng tháng 6, hai đoàn đi Học viện Thông tin và Học viện Hải quân ở Leningrat được hình thành. Tôi ở đoàn học tác chiến điện tử trong thông tin do anh Vinh phụ trách, ngoài ra còn có thiếu tá Huấn ở Cục quân lực, thiếu tá Thạo ở BTL Phòng không, đại úy Toàn và một đại úy nữa ở BTL thông tin, có đại úy Phùng Thanh Đà ở Cục vật tư, thượng úy Dũng ở phân viện TCĐT, tất cả là 8 người. Đoàn này đi học theo kế hoạch chuẩn bị người cho việc hình thành ngành TCĐT trong quân đội ta.

Đoàn do anh Vinh phụ trách, còn thành viên có 2 nhóm, nhóm đã học ở Liên Xô trước đây như Vinh, Huấn, Thạo, Dũng, Toàn và nhóm học trong nước như Thắng, Đà và một cậu ở thông tin…Trong nhóm học ở Liên Xô về có cậu Dũng và cậu Toàn là còn thông thạo tiếng Nga nên sẽ làm phiên dịch trong học tập cho đoàn. Cậu Dũng dịch kỹ thuật và cậu Toàn dịch chiến thuật. Sau khi hình thành tổ chức, đoàn có kế hoạch tập huấn về kiến thức TCĐT tại B10, Viện kỹ thuật quân sự. Một khối lượng kiến thức lớn được nạp gấp rút, trong đó có các kinh nghiệm TCĐT trong chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ là phong phú và khá hay. Tôi tiếp thu cũng không mấy khó khăn vì nền tảng kỹ thuật và chiến thuật của tôi đã khá vững. Ngoài việc học, việc được trao đổi nhiều nhất là chuyện “làm ăn” trong chuyến đi này. Tôi để ý thì mọi người truyền cho nhau nhiều kinh nghiệm và nhiều tin đồn. Nhưng thực ra ai cũng có những suy tính riêng, những “bài tủ” rất khó chia sẻ. Rồi trong 8 người cũng chia ra vài phe nhóm. Ông Vinh, ông Đà chơi một mình. Hai cậu thông tin cặp kè nhau. Nhóm tôi, có Huấn, Dũng, Thạo khá gắn kết và chia sẻ nhau nhiều chuyện.

Ngoài thời gian tập huấn kiến thức, chúng tôi lo chuẩn bị cho chuyến đi. Có 3 mảng phải chuẩn bị: mảng làm thủ tục và lĩnh quần áo tư trang do tài chính cho mượn. Cũng rất nhiêu khê về thủ tục, đi lĩnh ở kho khá xa, và sửa chữa sao cho mặc vừa. Tôi hồi đó khá gày gò ốm yếu, quần áo chữa mãi mà mặc vào “vẫn là đồ đi mượn”. Mảng chuẩn bị đồ “đút lót”: Cho giáo viên để có điểm tốt, cho khoa để còn xin cái này cái nọ, cho hải quan để dễ trót lọt nếu được gửi thùng hàng… Đồ cho mảng này chủ yếu là rượu “Lúa mới”. Mảng thứ ba là mình sẽ mang gì đây? Phải trao đổi dò hỏi rất nhiều… để cuối cùng “gút” lại là mấy quần bò, mấy áo phông, đồng hồ gì, túi cói loại nào… đó là những thứ gần như là thông dụng nhất. Lúc đó Radio cassette là mặt hàng có giá trị rất cao, nhưng cả ta và Liên Xô đều cấm. Vậy mà cậu Dũng vẫn mang sang được một cái mà không ai biết, hóa ra bạn cậu ta ở Liên Xô có một đường dây lo cho cả hai đầu trót lọt. Tới Matxcova, khi cậu lấy ra đưa cho bạn, chúng tôi sững sờ và vô cùng cảm phục.

Tôi cũng cố gắng chuẩn bị. Phần đóng góp chung là mua khoảng 20 chai Lúa mới. Phần riêng thì tôi mua được 3 cái quần bò, 10 cái áo phông là cạn vốn. Nghe nói chỉ được mang 1 quần bò, 3 áo phông nên tôi khá lo lắng. Anh em truyền kinh nghiệm: mặc vào người vài cái là ổn. Chúng tôi khởi hành cuối tháng 8, trời thu Hà Nội nóng kinh hoàng, không hiểu sao lúc đó lại đủ sức mang được cả đống ấy trên người.

Theo kế hoạch 1/9 khai giảng, vậy chậm nhất chúng tôi phải có mặt ở Leningrat là 30/8. Mọi người bàn và xin đi từ 20/8 và không hiểu sao cũng đi được. Ra sân bay Nội Bài chúng tôi “khệnh khạng” (do mặc vài bộ quần áo vào người) vào làm thủ tục. Xếp hàng, mở rộng va li, túi xách ra để khám. Tuy có “làm việc” trước với hải quan nhưng vẫn lo lắng. May sao, mấy nhân viên hải quan chỉ đi lướt qua, thỉnh thoảng cúi xuống xem xét rất “nghiêm túc” rồi cho qua. Mọi người thở phào khoan khoái và ra hiệu báo tin vui cho vợ con đang cũng lo lắng đợi chờ. Cuối cùng mọi gian lao khổ ải cũng qua, chúng tôi đã ngồi trong chiếc máy bay IL76 to lớn và nóng như nồi hơi, hình như máy bay không có điều hòa không khí thì phải. Phải gấp rút trút bỏ mấy bộ đồ ra không thì chết ngất mất. Trong máy bay hầu hết là người Việt: lưu học sinh; cán bộ đi học, đi công tác như chúng tôi; một vài khách người Nga; còn lại đa phần là công nhân xuất khẩu lao động. Trong cái nóng hầm hập, tiếng chuyện trò, gọi nhau í ới, chạy đi chạy lại như cái chợ… Rồi cũng đến giờ bay, máy nổ ầm ì, máy bay chạy lấy đà và lao vút lên không. Cái lao vút đó đã đưa tôi vào ngay cơn say, choáng váng chóng mặt ghê gớm, người lạnh toát nhưng mồ hôi vẫn túa ra, khổ sở vô cùng. Tôi nằm lịm đi không ngóc đầu lên được. Không biết bay bao lâu, tôi nằm im chịu trận, giá ngủ đi một giấc có lẽ hay, nhưng khốn nạn không sao ngủ được dù mắt vẫn nhắm nghiền. Tới giờ ăn, tôi chịu không ăn nổi vì nghe mùi đồ ăn là đã nôn nao muốn ói ra rồi. Rồi hạ cánh tiếp dầu ở đâu đó.

Khi hạ cánh cơn chóng mặt lại càng dữ và tôi nôn thốc nôn tháo, bao nhiêu đồ ăn từ hôm trước ra sạch, sau đó là dịch dạ dày đắng nghét. Tiếp dầu xong, máy bay cất cánh, cơn say mới chồng lên cơn say cũ, quả thực tôi chỉ muốn chết đi cho rồi. Đi Tây thế này thà ở nhà quách cho xong. Lại mấy tiếng nằm lịm cho tới khi hạ cánh ở sân bay Matscova.

Cũng phải đứng dậy mà đi, phải lấy và mang hành lý ra đợi họ đón. Chỗ đợi không có 1 cái ghế nào, mà tôi thì vẫn say và ói liên tục. Tôi đành liều ngồi cạnh thùng rác và cứ há mồm cho các thứ nó chảy ra. Thật quá thảm hại. Mãi cả tiếng sau, mới có người đến đón. Tất cả lên 1 chiếc xe ca. Vừa ngồi xuống và xe chạy thế là tôi lại rơi vào trạng thái say và ói, tôi cứ gục đầu trên tay vịn và ói thẳng xuống sàn xe… Rồi cũng tới chỗ nghỉ tạm qua đêm. Tôi nằm vật xuống và chìm vào giấc ngủ nặng nề. Sáng hôm sau có thông báo là chiều sẽ lên tàu hỏa đi Leningrat. Tôi vẫn phải nằm và không ăn uống được gì.

_________________

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương
http://www.cuuhvlq2.tk
      
Old
Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính : Nam

Bài viết : 571

Danh vọng : 916

Uy tín : 16

Phần 3

Gần trưa có cậu Thành là bạn cậu Dũng tìm đến. Dũng bàn giao đồ đạc trong đó có chiếc Radio Cassette. Sau này nghe nói radio cassette giá tới 1000 rúp, một khoản tiền rất lớn. Cậu Thành thăm hỏi anh em, thông báo tình hình thị trường và ngỏ ý mua vài món đồ cho mọi người. Sau khi trao đổi thấy giá mua Thành đưa ra có vẻ thấp mọi người im lặng. Lúc này chỉ có tôi và Dũng trong phòng, Thành hỏi:

- Anh mang được gì không?

Tôi nói:

- Có 3 cái quần bò và 10 cái áo phông.

Sau khi xem, cậu ta nói:

- Quần của anh toàn size nhỏ, áo thì kiểu quê quá khó bán lắm. Lúc đi mua chỉ biết mua quần bò, chứ có biết size nào bán được hay không bán được đâu. Cậu ta nói thêm: May ra chỉ có cái quần size lớn nhất là bán được thôi".

- Giá bao nhiêu?

- Cao lắm là 100 rup.

- Sao nói là 120 rup cơ mà.

- Phải size lớn mới được vậy.

Tôi nghĩ 1 lát rồi bán cho cậu ấy chiếc quần giá 100 rup, dù sao cũng phải có đồng tiền lận lưng chứ. Vì khi gặp người ra đón đoàn, chúng tôi mới vỡ lẽ ra là do sang sớm tới 10 ngày nên 10 ngày này chúng tôi phải tự túc việc ăn uống. Mọi người không biết thế nào chứ tôi thì không có 1 xu. Quả đúng vậy, 100 rúp này đã cưu mang nhóm 4 người chúng tôi hơn chục ngày. Tôi vẫn nằm ngây ngất, không ăn được tí gì, chỉ uống tí nước, cơn say vẫn chưa bớt chút nào. Mọi việc trao đổi, mua bán đều diễn ra trong trạng thái nằm, vì hơi ngóc đầu lên là lại ói ngay.

Chiều đến chúng tôi được dẫn ra tàu hỏa đi Leningrat. Trong lúc đứng đợi tàu ở sân ga, có vài ông người Nga già chăm chú nhìn chúng tôi và tới hỏi thăm. Tiếc là tôi chỉ có thể nói rằng: tôi không nói được tiếng Nga rồi bắt tay nhau cười cười. Lên tàu chúng tôi ngồi ở toa ghế mền, so với tàu Việt Nam thì quá sang trọng và tiện nghi.

Tàu chuyển bánh từ từ rồi nhanh dần, chẳng mấy chốc đã lao vùn vụt với tốc độ 120km/h. Trời tối dần, nhưng không tối hẳn nên vẫn có thể thấy quang cảnh mênh mông bát ngát của nước Nga. Tuyến xe lửa Matscva - Xanh Petecbua do đích thân Nga hoàng vạch tuyến, Ông ta lấy cây thước nối 2 điểm trên bản đồ và kẻ 1 đường thẳng băng. Khi thi công, xem bản vẽ, thấy có 1 chỗ cong như nửa đường tròn, mọi người không hiểu nhưng cứ làm đúng như bản vẽ. Sau này tìm hiểu kỹ thì ra là khi vẽ Nga hoàng đã vòng qua ngón tay giữ thước mà không để ý. Qua giai thoại này ta thấy tầm nhìn lớn của một ông vua và sự nghiêm túc thực hiện của quần thần.

Khi tàu tăng tốc và lao nhanh thì cũng là lúc tôi rơi vào trạng thái say mê mệt. Lại nằm im như chết mà không sao ngủ được. Lâu lâu uống ngụm nước để có cái mà ói…Thê thảm quá chừng. Nói về say tàu xe tôi bẩm sinh đã vậy. Mẹ tôi kể lại hồi bé, mỗi lần chạy giặc, di chuyển cơ quan, bà cho tôi vào 1 bên thúng, bên thúng kia là đồ đạc và gánh đi. Tôi say mê mệt và ói mửa tùm lum rồi khóc suốt. Lớn một chút mỗi lần bố tôi cho đi theo xe ô tô là lại say…Thời gian về Cục Tác chiến, tôi hay phải đi công tác, nhiều lần đi máy bay AN 26 tôi cũng say khốn khổ, toàn nằm trên sàn máy bay chung với gà qué, heo, chó… Lần đi Lào công tác bằng Mi 8 cũng vậy, đến nỗi khi máy bay hỏng rơi tũm xuống ruộng lúa tôi còn mừng vì khỏi phải bay nữa!

Tàu chạy suốt đêm và rạng sáng thì tới ga Leningrat, một nhà ga rộng lớn và đông đúc. Đón chúng tôi là đại diện Học viện và 2 anh đoàn Việt Nam đang học tại đó. Họ đưa chúng tôi về DOM 32 trên phố TOREZA. Đây là ký túc xá cho sinh viên, nghiên cứu sinh các nước đang học ở Len. Chúng tôi ở tầng 8 hay 10 thì không nhớ nhưng cũng khá là cao. Đoàn tôi 8 người thì tôi, Vinh, Huấn, Thạo, Đà, Dũng được xếp vào 1 căn hộ 3 phòng, còn 2 cậu thông tin thì ở ghép vào một căn hộ với sinh viên đang học ở đây. Tôi lên phòng và nằm vật ngay ra cái giường nhỏ cạnh giường anh Huấn trong căn phòng có cửa sổ nhìn ra phố Toreza. Anh em cũng thăm hỏi, sức dầu, mua bánh, nước cho tôi ăn uống, nhưng không sao khỏi ngay được. Cứ như vậy hai hôm sau tôi mới tỉnh dần. Tính ra tôi say gần 3 ngày 3 đêm và hầu như không ăn uống gì. Khi đi đã gầy gò ốm yếu, bị một trận như vậy càng yếu thêm nên tâm trạng khá mệt mỏi.

Căn hộ chúng tôi ở cũng khá đủ tiện nghi, có 2 phòng riêng, có bếp riêng, có Tivi, có sưởi… Ông Vinh và cậu Đà ở 1 phòng riêng biệt, tôi và Huấn ở phòng ngủ thứ 2, có cửa thông ra phòng khách, phòng khách rộng nên ngoài chỗ để Tivi, họ kê thêm 2 giường và Thạo, Dũng nằm đó. Dom 32 là 1 chung cư cỡ 12 tầng, nằm dọc phố Toreza. Phía sau Dom 32 là khu sân chơi rộng cho nhiều khu nhà nằm quanh đó. Ấn tượng đầu của tôi là ở đây cái gì cũng to và rộng: người to lớn, nhà cửa to lớn, đường xá rộng rãi, sân chơi cũng rất rộng, từ nhà này đến nhà kia phải đi mệt nghỉ… Nhà thì rất to nhưng cửa vào thì bé tí, trần nhà cũng rất thấp vì sứ lạnh phải vậy mới hợp. Dom 32 có thang máy, chúng tôi toàn đi thang máy. Giờ đi làm hay chiều về cũng nhiều lúc “kẹt” thang.

_________________

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương
http://www.cuuhvlq2.tk
      
Old
Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính : Nam

Bài viết : 571

Danh vọng : 916

Uy tín : 16

Phần 4

Bây giờ ở Nga là cuối thu, trời bắt đầu trở lạnh. Còn 1 tuần nữa mới vào học nên mọi người bàn nhau tranh thủ đi kiếm hàng. Thường thì nhóm 4 tên Thắng, Thạo, Huấn, Dũng hay đi với nhau. Ông Vinh hay đi một mình, cậu Đà cũng vậy. Khi tôi đã tạm hồi phục thì nhóm 4 tên rủ nhau ra phố. Sở dĩ phải đợi tôi vì lúc này tôi đang giữ 100 rúp tạm làm quĩ của nhóm. Đầu tiên phải tìm hiểu mạng lưới xe điện ngầm vì đây là phương tiện khá tiện lợi, chỉ cần nhớ ga xe điện ngầm gần nhà, sau đó cứ thế mà đi, kiểu gì cũng về được. Thứ hai là phải có nhiều tiền lẻ và tiền xu và thứ ba là phải khỏe vì phải đi bộ nhiều.

Có trạm xe buýt ngay trước nhà, chúng tôi nhảy lên, mua vé bằng xu. Xe khá đông, quân ta nhỏ bé thấp lùn lọt thỏm vào đám người Nga cao to, lúc này mới thấm “nỗi buồn nhược tiểu”. Tới bến xe điện ngầm chúng tôi xuống. Phải nói rằng mỗi ga xe điện ngầm được xây dựng và trang trí như một cung điện rộng lớn, không ga nào giống ga nào. Cái ấn tượng to lớn lại đến với tôi. Người đông nghịt, khi đi chúng tôi mặc khá nhiều quần áo vì ngoài trời chỉ khoảng 14, 15 độ, nhưng vào ga và lên tàu chúng tôi toát mồ hôi hột vì nóng. Đang đứng đợi thì 1 đoàn tàu lao vụt đến rồi dừng lại êm ru, mọi người vội vã lên xuống trong khoảng 30 giây. Con tàu lại lao vụt đi chui vào đường hầm hun hút tối mò. Lên tàu tôi để ý thanh niên, đàn ông không một ai đến ghế ngồi. Chỉ có mấy bà già và phụ nữ trung niên là ngồi. Đàn ông, thanh niên vô ý ngồi xuống là bị mọi người nhìn như quái vật. Tất nhiên là chúng tôi cũng đứng, có điều tôi phải chọn 1 góc nào đó để tựa vào cho khỏi ngã, có chỗ mà bám tay cho chắc. Đến ga trung tâm chúng tôi xuống. Lên đến mặt đất tôi choáng ngợp vì sự to lớn, rộng rãi và sang trọng. Đi lướt nhanh qua các tủ kính to lớn bày hàng hóa đắt tiền, chúng tôi chui vào cửa hàng mà bây giờ hay gọi là siêu thị. Hàng hóa khá nhiều, người đi mua cũng lắm, nhưng chúng tôi chỉ để tâm tới mấy món hàng “chiến lược” dễ tiêu thụ và lãi suất cao như tủ lạnh Saratop, nồi áp suất, chậu nhôm to, dây mayso cho bếp điện, bàn là, máy khâu, các loại ổ cắm điện. Dạo một vòng qua mấy cửa hàng chúng tôi chưa phát hiện ra hàng “chiến lược”, nhưng cũng thích vài thứ và nảy ra ý định mua sắm lung tung. Mọi người xác định lại “tư tưởng” và không mua gì, coi như đi trinh sát thôi. Nói thực lúc đó tôi còn mệt, không biết tiếng tăm gì, tiền nong có hạn nên cũng không mấy hứng thú với trò mua bán. Nhưng vì “trách nhiệm nặng nề” nên phải cố thôi. Tôi rất ngại và xấu hổ vô cùng.

"Thế là tôi đã đi Tây" - hồi ký của Trần Thắng Img_0011

Chiếc nồi áp suất - kỷ vật đi Liên Xô duy nhất tôi còn giữ lại"

Sau đó là mấy ngày cuối tháng 8, chúng tôi vào học viện để làm các thủ tục, anh Vinh trưởng đoàn cũng đề xuất luôn vài đề nghị: xin cấp quân trang, xin gửi thùng hàng… Quân phục chúng tôi mang đi là loại K82 may vải của LX cho nên khá tươm tất nhưng không thể bằng vải may cho sĩ quan LX và LX may. Nhất là sơ mi của chúng tôi khá bèo so với sơ mi – áo bay của Liên Xô đang là hàng “hot” ở Việt Nam. Đang mùa thu và mùa đông sắp tới mà chúng tôi không có áo khoác, quân trang của họ theo mùa, mùa thu có áo khoác mỏng (panto) và mùa đông có áo khoác dày (xinhen) kèm theo mũ lông. Sở dĩ vấn đề quân trang quan trọng không phải chúng tôi muốn mặc đẹp mà vì chúng rất có giá ở Việt Nam lúc đó. Từ cái áo bay, đến đôi giày da nâu, từ cái áo panto đến cái mũ lông… cái gì cũng qui ra tiền hết. Mà quân ta thì đang rất cần tiền. Theo qui định thì học kỳ hạn 6 tháng sẽ không được cấp quân trang và không được gửi thùng hàng. Nhưng sau đó một vài tuần chúng tôi được thông báo: sẽ được may 2 áo bay, 1 áo panto, cấp 1 đôi giày da. Được gửi 1 thùng hàng nhưng chỉ có kích thước 1,2x1,2x1,2m, tuy nhỏ nhưng có còn hơn không. Kết quả này có sự góp công của vài chai Lúa mới đây. Áo bay và panto đo may chỉ 2 tuần là xong. Nhận áo đa số cất kỹ, riêng tôi thấy mấy cái sơ mi của tôi quá cũ lại bạc phếch nữa nên tôi lấy áo bay ra mặc luôn. Về quần áo của quân ta so với quân đội các nước thật quá kém, kiểu cách, chất liệu đều rất tồi. Người ngợm đã quắt queo dặt dẹo, đi đứng liêu xiêu, lại mặc những bộ đồ chán như vậy càng làm cho quân ta chẳng giống ai. Nhất là cái món quân hàm, vừa xấu, vừa bèo nhèo, lại màu sắc sặc sỡ trông đến chán. Nguyên gắn sao, gắn gạch rồi đeo vào áo đã là một kỳ công. Vậy mà mỗi người chỉ có 1 bộ, khi sao rụng, gạch gẫy thì thật buồn cười, có anh đại úy một bên 4 sao, một bên 3 sao; có anh thiếu tá một bên 2 gạch, một bên 1 gạch. Chuyện này rất hay xảy ra vì mùa thu, mùa đông ra khỏi nhà là phải mặc áo khoác. Khi vào nhà cởi ra vô ý một chút là sao gạch rụng sạch. Đấy là chưa nói quân đội các nước họ mặc khác ta, áo sơ mi có quân hàm, áo vét có quân hàm, áo panto có quân hàm, mà quân hàm thường có màu gần giống màu quân phục nên rất nền nã; sao không sắc nhọn và được bắt bằng ốc vít rất chắc, sau đó may vào áo. Còn ta chỉ có nhất bộ đeo ở áo vét thôi, màu lúc mới thì sặc sỡ nhưng khi cũ bạc xỉn màu rất xấu, sao vạch bằng đồng mỏng sắc nhọn lại mạ bạc mỏng nên khi cũ nó bong tróc, đen xỉn rất chán, lại gắn bằng các dây đồng nhỏ hay chân bằng nhôm nên hay gẫy lắm. Cải tiến cải lùi mãi mà vẫn không khá lên được. Thật chán.

_________________

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương
http://www.cuuhvlq2.tk
      
Old
Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính : Nam

Bài viết : 571

Danh vọng : 916

Uy tín : 16

Phần 5

Ngày 1/9/1984 nhà trường khai giảng, có 1 lễ ngắn gọn, sau khi hiệu trưởng phát biểu, các khối học viên đi đều diễu qua khán đài, xong là vào lớp học. Việc học của chúng tôi có 2 phần, phần chiến thuật và phần kỹ thuật. Mỗi phần có vài môn học. Học kỹ thuật thì cậu Dũng dịch. Học chiến thuật thì cậu Toàn dịch. Học lý thuyết xong thì thực hành trên các thiết bị.

Với tôi và một vài người khác mọi việc không có gì khó khăn, nhưng cũng có anh học đấy nhưng hầu như chả hiểu gì. Tôi có nhận xét thế này: kiến thức kỹ thuật nói chung dừng lại ở mức cơ bản, tính ứng dụng ít và kém xa những gì thực tế tôi đã gặp trong chiến tranh với Mỹ, hiểu biết của họ về Mỹ không nhiều và khá lạc hậu. Thiết bị trinh sát điện tử và chống phá điện tử toàn dùng các loại máy thông tin chế lại nên tính năng không thể bằng thiết bị của Mỹ. Lúc này ta cũng được tiếp xúc 1 số kiến thức và thiết bị dành cho khối Vacsawa, nhưng cũng chỉ như cưỡi ngựa xem hoa. Cũng có những buổi đi dã ngoại, khá vất vả vì giá lạnh, băng tuyết và đêm hôm, nhưng cũng thú vị…Việc học cứ tuần tự trôi qua và cuối cùng chúng tôi cũng có 2 ngày thi tốt nghiệp, một nửa là khá giỏi và tốt nghiệp 100%. Rồi nhận bằng. Chụp ảnh. Liên hoan chia tay…

Trong 6 tháng học, nhà trường tổ chức cho chúng tôi đi chơi khá nhiều. Tháng đầu tiên, chúng tôi được đi thăm cung điện Mùa hè. Công trình đẹp từ cảnh trí, sân vườn, thác nước đến các lâu đài xa hoa sang trọng, toàn bộ cung điện nằm bên bờ vịnh lộng gió. Sau đó chúng tôi còn được đi thăm viện bảo tàng mỹ thuật Ermitad, khu tưởng niệm những người dân và lính hồng quân hy sinh trong hơn 900 ngày đêm bảo vệ Leningrat trong đại chiến thế giới thứ 2, ở đó có hơn 900 ngọn đèn cháy sáng vĩnh cửu, thăm cung điện mùa đông, điện Smonui…Phải nói rằng đó là những chuyến đi vô cùng bổ ích và lý thú. Chỉ có lần thăm điện Smonui, đứng cạnh tượng Lenin đang chỉ tay, anh chàng Đà cũng làm điệu bộ như vậy và hét lên: “CCCP – Các Chú Cứ Phá” làm bọn tôi giật mình. May mà không ai thấy.

"Thế là tôi đã đi Tây" - hồi ký của Trần Thắng 22.6

[color=#888888]Bảo tàng Ermitage (hình minh họa)
Tháng 9-1984, chúng tôi được lĩnh phụ cấp hàng tháng. Cấp tá là 120 rúp và cấp úy là 100 rúp. Tiền phụ cấp dùng cho ăn và tiêu vặt. Chỉ tiêu đặt ra là ăn và tiêu càng ít càng tốt, còn lại dành để mua đồ. Nhóm tôi xác định chuyến đi này vấn đề bồi dưỡng sức khỏe rất quan trọng, ngoài cậu Dũng còn trẻ khỏe và có da có thịt ra, 3 thằng còn lại toàn gày gò, ốm yếu, cha Thạo lại cao nữa cho nên cứ như Dongkisot ấy, cho nên cố gắng tiết kiệm nhưng không hạn chế ăn. Một ngày bắt đầu từ 05g sáng, thức dậy, vệ sinh cá nhân, ăn sáng rồi 06g lên xe buýt. Trưa 12g nghỉ và phải vào ăn trong nhà ăn sĩ quan, ăn ở đây khá đắt nên cũng phải tính toán sao cho mỗi bữa chỉ tốn 1,5 – 2,0 rúp. Kể cũng khó xoay sở. Bốn thằng 1 bàn, mỗi thằng gọi món riêng, nhưng vẫn để ý và nhắc nhau ăn sao cho kha khá 1 chút. Riêng cha Thạo rất lười ăn, ăn ít, món nào cũng chê, nhưng cả nhóm ra sức ép cho cha ấy ăn. Tối về tự nấu lấy ăn, đi chợ thì đi chung, còn nấu thì mỗi anh một tối, cứ thế xoay vòng. Tan học 1 anh về nấu ăn còn 3 anh đi “tăm” hàng, gặp là mua cứ cơ số 4 nhân lên. Có hôm nhiều hàng quá phải cử 1 anh chạy về kêu anh đang nấu cơm ra tải hàng. Như vậy mỗi tháng chúng tôi cũng tiết kiệm được từ 30 – 50 rúp, mà 1 cái bàn là có 2,5 rúp, mỗi tháng mua 15 – 20 cái thì trúng to. Cứ như vậy bài toán ăn, tiêu, mua, bán chi phối chúng tôi hằng giờ, hàng ngày. Rồi thì cũng tìm được tủ lạnh, máy khâu, nồi hầm, chậu nhôm, dây mayso, áo bay…Nếu tại chỗ không có, thì mạng lưới người quen, mạng lưới mua bán hàng của quân ta phát huy tác dụng. Hàng từ Mat, và các thành phố khác gởi về dần. Căn hộ ngày càng chật chội vì phải kiêm chỗ để hàng. Khổ nhất là mấy bà lao công, ngày nào vào dọn dẹp cũng kêu la quá trời.

Dần dần hàng mang sang cũng tiêu thụ hết, chủ yếu là qua trung gian nên cũng không được giá lắm. Ai cũng có một khoản tiền và hàng mua được nhiều thêm. Tới bây giờ tôi vẫn nhớ rõ cái cảnh đi “đánh hàng”. Phát hiện ra hàng phải nhanh chóng mua ngay, họ bán ít thì xếp hàng quay vòng, gọi anh em tới mua, nhờ người Nga mua hộ. Kể cũng chai mặt lắm nhưng biết làm sao? Không đánh nhanh, quân ta kéo đến thì nó vét sạch ngay. Rồi khuân 1 đống hàng đó ra xe, ra tàu theo kiểu sâu đo. Trong cái giá rét -30, -35 độ, gió gào thét, tuyết bay mù trời, băng trơn như mỡ, quân ta vẫn hì hục nhẫn nại làm việc không dám nghỉ ngơi, vì nếu nghỉ là coi như nghỉ luôn, khó mà làm tiếp được. Tôi nhớ như in những lúc mỗi tay xách 4 cái nồi hầm hoặc 2 cái máy khâu, lò dò từng bước trên băng trơn, gió ngược, nước mắt nước mũi chảy ra rồi đóng băng thành cục mà không sao gỡ ra được. Nhiều lúc muốn buông xuôi, nhưng rồi nghĩ tới lúc số hàng này về đến nhà, biến thành sữa cho con, quần áo cho vợ, xây được mái nhà nhỏ là lại cố mà bước. Về đến DOM đâu đã hết khổ, đợi chờ, tranh giành thang máy, nếu thang máy liệt thì chỉ còn cách vác hàng leo bộ lên lầu 8, lầu 10 mà thôi. Mình làm mọi việc đó trong cái nhìn đầy thắc mắc, đầy thương hại, thậm chí coi thường của người Nga, các học viên nước khác cùng học. Lúc này chỉ có chai mặt, cắn răng mà chịu chứ biết sao? Cái số phận của chúng ta, của dân tộc ta nó vậy đấy, rất phi thường nhưng cũng quá đỗi tầm thường. Người ta không hiểu tại sao chúng ta làm được những việc phi thường như vậy và cũng không hiểu vì sao chúng ta cũng kéo nhau làm những việc tầm thường như vậy. Cái cảm giác xấu hổ, mặc cảm, sĩ diện luôn day dứt tôi hàng ngày. Mình chỉ biết cố gắng học hành cho tốt, ăn mặc sạch sẽ lịch sự, cư xử cho đàng hoàng thôi. Còn lại thì vẫn phải lao vào cái vòng xoáy của “phong trào”.

Vào tháng 12 thì phải, bố tôi có dịp qua LX làm việc. Ông đã liên hệ và tới Leningrat thăm tôi. Thế là cả bộ sậu háo hức, anh Hưng, anh Vũ cũng tích cực tham gia. Chúng tôi tới thăm Ông ở khách sạn và đề nghị Ông mang về giúp mỗi người 1 chút quà cho gia đình. Ông vui vẻ nhận lời và cùng chúng tôi chuẩn bị, tôi mua 1 cái vali nhỏ để quà của mọi người, mua 1 cái cặp sách có quai đeo cho con trai tôi vào năm học mới. Tôi nhớ là anh Hưng, anh Vũ gửi chủ yếu là thuốc Tây. Tôi và mấy anh em khác có vài món quà nhỏ cho mọi người. Tôi mua cho Bố tôi chục cuộn phim chụp hình…Khi tiễn Ông đi, Ông tháo chiếc đồng hồ tuy hơi cũ nhưng khá xịn đưa tôi để có thêm chút tiền mua sắm. Chiếc đồng hồ này sau đó tôi nhờ cậu Nhân ở đoàn anh Hưng bán hộ. Không biết xui sẻo làm sao cậu bị bọn Trung Á lừa mất. Tôi tiếc nhưng không đòi hỏi gì. Sau đó Nhân có đưa cho tôi 100 rúp, tôi cầm nhưng thấy áy náy quá. Không biết sau này Nhân là thiếu tướng, Cục trưởng, Nhân có nhớ vụ đó không? Tôi thì tôi nhớ mãi những người tốt như vậy.

_________________

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương
http://www.cuuhvlq2.tk
      
Old
Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính : Nam

Bài viết : 571

Danh vọng : 916

Uy tín : 16

Phần cuối

Đi mua hàng cũng có những chuyện vui, hôm đó tôi và Huấn cùng nhau la cà mấy cửa hàng, tới quầy quần áo lót phụ nữ đã tính qua nhanh, nhưng chợt thấy mấy cô gái dừng lại mua quần lót, tôi bấm Huấn dừng lại xa xa theo rõi. Khi các cô đi rồi tôi kéo Huấn lại xem, cô bán hàng không chú ý bỏ đi. Tôi bàn với Huấn: mấy bà vợ ở nhà toàn lấy vải tự may quần lót, nếu có được vài chiếc loại sợi vải dệt kim thế này này thì thích lắm đây, Huấn đồng cảm ngay và nhất trí mua. May sao lúc đó không có ai, hai thằng kêu cô bán hàng và nói mua mấy cái quần lót, cô ta mở to mắt ngạc nhiên và cố nén cười. Chúng tôi cũng ngượng lắm nhưng ỷ đông nên phớt lờ đi. Cô ấy hỏi mua mấy cái, tôi nhanh miệng nói 20 cái. Cô ta trợn mắt, tròn mồn, còn Huấn cũng ú ớ không biết nói sao. Tôi mở to cái cặp, lùa nhanh mớ hàng vào, đóng lại và rảo bước đi ngay. Về đến nhà hai thằng mở ra xem, đếm và cười rúc rích. Bất ngờ Thạo, Dũng kéo vào và phát hiện, hai thằng reo lên: hàng này hay quá, mua ở đâu đấy? Bọn tôi nói cửa hàng xong thì Thạo và Dũng nói chắc bọn tôi chả dám đi mua đâu, thôi các ông chia lại đi. Nói mãi tôi và Huấn đành phải chia cho mỗi tên 5 cái. Vậy là chẳng còn bao nhiêu, tôi nói với Huấn: đấy thấy chưa tưởng mua nhiều mà bây giờ còn bao nhiêu đâu. Sau này tôi cảm nhận được có lẽ vợ tôi ưng ý nhất là món hàng đó.

"Thế là tôi đã đi Tây" - hồi ký của Trần Thắng Thoi_b10

Đồng hồ, tủ lạnh, tivi từ Liên Xô - những đồ xa xỉ của thời bao cấp (ảnh minh họa; nguồn: Internet)
Ngày qua ngày trong cái vòng quay ấy khá nhanh, vào dịp đầu năm mới nhà trường thông báo chúng tôi ra yêu cầu để hậu cần học viện đóng giúp cho 8 cái thùng theo kích thước qui định. Người Nga cũng rất cảm thông với chúng tôi. Thậm chí họ còn giúp chúng tôi mua được 8 cái tủ lạnh Saratop và cho gửi ở kho của trường. Nếu không có học viện giúp có lẽ chúng tôi không sao mua được nó, vì thấy người Việt hỏi mua, cửa hàng đều nói hết. Sau mấy tuần chúng tôi đã có thùng, thùng đóng bằng gỗ thông khá tốt. Khi xem và ước lượng chúng tôi thấy có chất hết hàng của mình có lẽ chỉ hết 4, 5 phần của thùng. Thế là việc mang hộ hàng trở nên sôi nổi. Mọi người trao đổi thỏa thuận, chủ yếu là mang hộ hàng trả bằng hàng. Tôi cũng mang hộ khá nhiều nhờ đó có thêm một khoản thu không nhỏ. Ví dụ: tôi chỉ mua được 10 cái chậu nhôm, mọi người gửi tôi mang hộ 20 cái và trả công là 5 cái chậu. Hoặc mang hộ 10 cái nồi áp suất thì được trả công 2 cái…Tính ra thu nhập do mang hộ hàng cũng gần quá nửa. Còn làm sao mang trót lọt mỗi thùng hàng chục cái nồi áp suất, hàng năm chục cái chậu nhôm…thì có người lo lót cho hải quan bến cảng, cũng vài chai Lúa mới thôi, vui vẻ.

Trước hôm về khoảng 1 tuần, học viện cho xe tải chở 8 cái thùng tới Dom 32, thật là 1 ngày hội, không khí náo loạn suốt 1 ngày. Nào là hàng của mình, hàng của anh em gửi…Mọi người xúm vào sắp xếp, chèn lót…cho đến chiều muộn thì tạm ổn. Xe tải của học viện lại chở giúp ra cảng. Hôm sau, tại cảng, các thùng hàng được mở ra cho hải quan khám. Anh chàng hải quan đi một lượt, săm soi nhòm ngó một hồi rồi phẩy tay cho qua. Vậy là xong. Khoảng 6 tháng sau, các thùng hàng này sẽ tới Hải Phòng. Để đưa được thùng hàng này về nhà chúng tôi biết còn qua nhiều cửa ải nữa.

Khoảng đầu tháng 2/1985 chúng tôi lên đường về nước. Tôi xếp 1 vali đồ khoảng hơn 20kg. Có thêm 1 túi xách to tôi nhờ anh em mua cho gần chục kg táo. Hồi đó được ăn táo Tây là quí lắm, tôi tính mua táo về cho mọi người ăn thỏa thích. Giữa mùa đông tìm mua táo đã khó lại đắt nữa nhưng tôi vẫn mua. Ngoài ra tôi để ra khoảng 50 rúp để sau khi vào phòng chờ sẽ mua champa, socola, kẹo, bánh để về liên hoan gặp mặt gia đình. Lúc ra sân bay mọi người thống nhất là mặc quân phục với áo panto bên ngoài, mặc nhiều như vậy vào người vừa thích hợp với thời tiết, vừa nhẹ vali, vừa đàng hoàng nghiêm chỉnh. Vậy nhưng chỉ có 7 người thực hiện, riêng Thạo dứt khoát cất panto đi cho nó mới, thay vào đó anh ta khoác chiếc áo xinhen to đùng, nặng chịch vào người. Áo xinhen là áo khoác mùa đông do học viện phát cho học viên. Khi về nước hầu như mọi người bỏ lại hết vì nó to, nặng, thô ráp, chỉ được cái ấm thôi. Đoàn tôi không được phát nhưng ở tủ của căn hộ có cả chục cái, chúng tôi cứ chọn cái nào vừa là mặc, khi về lại để lại trong tủ đó. Mọi người rất khó chịu nhưng Thạo mặc kệ, hơn thế anh ta còn nhét vào túi trong, túi ngoài áo khoác rất nhiều hàng linh linh để bớt cân của vali. Vẫn chưa hết, khi xuống sân bay ở Mát chúng tôi phát hiện quần áo Thạo bê bết một chất lỏng trắng đục gì đó, hóa ra anh ta bỏ túi cả chục lọ keo, khi bay thay đổi áp suất, keo phun ra khắp người. Thật là bi hài.

Kỳ này về chúng tôi đi máy bay từ Len lên Mát, tôi xin thuốc uống chống say từ mấy hôm trước. Nhờ đó chuyến bay về tôi không bị say, cũng có thể sức khỏe đã được nâng lên rõ rệt. Khi làm thủ tục, tôi cân chiếc vali khoảng hơn 20kg, họ cho qua. Nhưng nhìn chiếc túi xách căng phồng, họ bắt tôi để lên cân và nó nặng hơn 10kg. Họ bắt tôi nộp phạt quá cước 45 rúp, vậy là hết sạch tiền. Tôi đau quá muốn kêu trời mà đành chịu, mọi ý định cho một cuộc gặp mặt vui vẻ đã không thành. Đã thế sau khi nộp phạt xong họ không cho tôi xách theo nữa mà phải gửi hành lý, thế thì nát hết táo chứ còn gì? Hôm sau về nhà số táo tôi kỳ công, tốn kém mang về bị dập nát và hỏng gần hết, chán nhất là ăn chẳng còn mùi vị thơm ngon gì cả, vậy là mất toi gần 100 rúp cho chỗ táo đó. Ngoài ra tôi cũng mua những thứ hơi “vô duyên” như rất vất vả ôm về 1 cái gương treo tường to, hoặc lại mua nồi áp suất loại 4 lít rất khó bán…Còn lại nói chung là khá đáp ứng yêu cầu đề ra.

Sau mười mấy giờ bay chúng tôi đã về tới Nội Bài, khỏi nói cha con vợ chồng gặp nhau mừng thế nào. Có 6 tháng thôi mà tôi cảm thấy như lâu lắm rồi.

Rồi hơn 6 tháng sau, chúng tôi đi Hải Phòng lĩnh thùng hàng về. Lại 1 chuỗi cực nhọc, nhiêu khê, mất 2 ngày 1 đêm vạ vật cho tới khi hàng về đến nhà. Cũng xôn xao, náo loạn dỡ hàng, những người nhận hàng mang hộ cũng đã từ khắp nơi tới chờ chực để lấy. Tôi giải quyết xong mọi việc cũng phải mất cả tuần sau.
Kết quả không đến nỗi nào, ngoài những món quà thiết thực cho mọi người, tôi cũng gần đủ tiền để xây ngôi nhà “mơ ước” đầu tiên. Quà cho mẹ tôi là 1 chiếc đồng hồ treo tường to, có chuông kính kong mà bà rất thích. Các em tôi mỗi đứa 1 cơ số nồi áp suất, bàn là, chậu nhôm… Bố tôi là phim ảnh và các loại ổ cắm, đầu cắm điện mà ông cần. Khi xây nhà gần xong cũng là lúc tôi cạn vốn, vậy là áo bay đã mặc, giày đã đi, mũ lông, áo panto lần lượt ra đi. Tôi nhớ khi thợ kêu hết vôi tôi đã mang chiếc mũ lông ra bán và rất may vừa mua đủ 1 xe vôi.

Trong ngôi nhà mới, có 1 cái bếp nhỏ, tôi đã tận dụng gỗ thùng hàng đóng được 2 cái tủ nhỏ, giữa 2 tủ tôi kê 1 cái mặt bàn đá mài để cái bếp dầu. Vậy là có cái bếp “hiện đại” rồi.

Mỗi khi nhìn con đeo chiếc cặp LX ít người có đi học, ngồi trong ngôi nhà 18 m2 tường xây lợp ngói, tôi thấy mọi cơ cực trải qua thật không uổng phí. Sau này có đất rộng, nhà to, tiền tiêu món lớn, nhưng tôi không thể nào quên cái thủa vất vả, chắt chiu kiếm từng đồng một của hơn 25 năm trước.

Chuyện tôi đi “Tây” là vậy đấy.

Tháng 3 năm 2010
Trần Thắng

_________________

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương
http://www.cuuhvlq2.tk
      
thầy giáo làng
thầy giáo làng Mod

Cấp bậc: Mod

Giới tính : Nam

Bài viết : 835

Danh vọng : 1332

Uy tín : 183

Câu chuyện hay và thật quá! Nhưng mà các sếp ấy toàn là dân VIP ở Bộ tổng, lại là diện COCC mà còn rên rỉ như thế thì mấy thằng lính trơn như bọn mình lúc ấy còn khổ đến cỡ nào các bác ấy có biết không nhỉ?

_________________
...lên non cuốc sỏi trồng hoa
mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông...
      
Ruz
Ruz Ưu tú

Cấp bậc: Ưu tú

Bài viết : 511

Danh vọng : 889

Uy tín : 2

"Thế là tôi đã đi Tây" - hồi ký của Trần Thắng Flag_r10
@Old đã viết: ...Tôi có nhận xét thế này: kiến thức kỹ thuật nói chung dừng lại ở mức cơ bản, tính ứng dụng ít và kém xa những gì thực tế tôi đã gặp trong chiến tranh với Mỹ, hiểu biết của họ về Mỹ không nhiều và khá lạc hậu. Thiết bị trinh sát điện tử và chống phá điện tử toàn dùng các loại máy thông tin chế lại nên tính năng không thể bằng thiết bị của Mỹ. Lúc này ta cũng được tiếp xúc 1 số kiến thức và thiết bị dành cho khối Vacsawa, nhưng cũng chỉ như cưỡi ngựa xem hoa.
Mong rằng Cục Tác chiến Điện tử của ta hiện nay không còn "lạc hậu" và cũng không chỉ biết nói!

Vậy tác chiến điện tử là gì?

Spoiler:
Tác chiến điện tử

Tác chiến điện tử (tiếng Anh: Electronic warfare - EW), viết tắt TCĐT, là một phương thức tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động của quân đội, được tiến hành thống nhất theo mục đích, nhiệm vụ, địa điểm và thời gian nhằm loại trừ, ngăn cản hoặc làm giảm hiệu quả các hệ thống chỉ huy, khả năng điều khiển vũ khí bằng các phương tiện điện tử của đối phương và bảo đảm ổn định tối đa cho hoạt động của các hệ thống đó của mình trước các tác động của đối phương trong chiến tranh.

Nhiệm vụ tác chiến điện tử

Vô hiệu hóa các hệ thống C3I: Command (chỉ huy), Control (điều khiển), Communications (truyền tin), and Intelligence (tình báo); C4IRS: Command (chỉ huy), Control (điều khiển), Communications (truyền tin), Computers (máy tính), Intelligence (tình báo), Surveillance (cảnh giới), và Reconnaissance (trinh sát) của đối phương.

Duy trì khả năng tác chiến của hệ thống chỉ huy, điều khiển, trinh sát và thông tin liên lạc của quân nhà.

Vai trò

Học thuyết quân sự hiện đại của Mỹ cho rằng: “Trong chiến tranh, ai khống chế được việc sử dụng phổ điện từ sẽ là người chiến thắng”; “Lịch sử chứng minh rằng chiếm ưu thế trong tác chiến điện tử dẫn đến thắng lợi trong các hoạt động quân sự”.

Trong thời đại ngày nay, khi công nghệ điện tử, thông tin, vật liệu mới đang phát triển như vũ bão, và trở thành yếu tố quyết định trong các hoạt động quân sự thì TCĐT trở thành nhân tố sống còn của chiến tranh.
TCĐT là phương tiện nhân bội sức mạnh và là 1 trong 3 nhân tố then chốt của chiến tranh công nghệ cao, bao hàm cả tiến công và phòng thủ, vì thế các quốc gia cần đầu tư ngay từ thời bình và luôn sẵn sàng.

Các thành phần

Thành phần của tác chiến điện tử bao gồm trinh sát điện tử, bảo vệ điện tử và chế áp điện tử.

Trinh sát điện tử

Là loại hình trinh sát quân sự dùng phương tiện điện tử, được tiến hành từ mặt đất, trên không, trên vũ trụ, trên và dưới mặt nước. Trinh sát điện tử bao gồm 6 loại trinh sát sau:

  • Trinh sát vô tuyến điện
  • Trinh sát vô tuyến truyền hình
  • Trinh sát nhiệt (trinh sát hồng ngoại)
  • Trinh sát rada
  • Trinh sát âm thanh
  • Trinh sát thủy âm


Bảo vệ điện tử

Gồm toàn bộ các hoạt động làm cho các phương tiện điện tử làm việc an toàn, ổn định, chống đối phương gây nhiễu và đánh phá, chống tự nhiễu lẫn nhau của các phương tiện điện tử.

  • Chống trinh sát điện tử
  • Chống chế áp điện tử
  • Kiểm soát điện tử
  • Dung hòa trường điện từ


Chế áp điện tử

Là toàn bộ các biện pháp và hoạt động làm tê liệt hoặc hạn chế hiệu quả sử dụng các phương tiện điện tử của đối phương. Gồm hai loại là chế áp cứng và chế áp mềm.

  • Chế áp cứng là hành động nhằm cản trở, gây khó khăn hay tiến hành phá huỷ một phần hoặc hoàn toàn phương tiện điện tử đối phương bằng hỏa lực, bằng xung lực hoặc các dạng năng lượng khác.

  • Chế áp mềm là sử dụng năng lượng điện từ trường (kể cả dạng có điều chế ở các mức độ khác nhau; được số hóa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau; được lập trình thành các nhóm như các gói tin (packet) hay các viên đạn điện tử - thông tin trên internet; các phần mềm virut; các câu lệnh truy vấn trên URL;... ); được phát xạ, phát ra hoặc phản xạ hay sao chép lại, đánh lừa điện tử để ngăn cản, gây khó khăn hay loại trừ hoặc làm giảm hiệu quả hoạt động các phương tiện ĐT đối phương. Có các biện pháp như gây nhiễu, tao mục tiêu giả….
    Trong các phương tiện điện tử của đối phương cần chế áp, thì máy tính (PC, laptop) hay mạng máy tính là mục tiêu quan trọng nhất của TCĐT.


Có thể nhận thấy, Mĩ và các nước đồng minh phương tây là các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh nhất hiện nay, cùng với đó, khả năng tác chiến điện tử của Mĩ được sự hỗ trợ của các khoa học kĩ thuật hàng đầu thế giới đem lại cho quân đội nước này khả năng lợi thế rất lớn.

Các phương tiện

Như ta đã biết, trinh sát điện tử được thực hiện từ trên không, trên vũ trụ, trên mặt đất, và cả dưới mặt nước.

Trinh sát vệ tinh

Mĩ hiện là quốc gia đứng đầu về số lượng vệ tinh trên thế giới và đang chiếm ưu thế trong hoạt động trinh sát nhằm mục đích quân sự, bao gồm các vệ tinh địa tĩnh trinh sát tín hiệu SIGINT, các vệ tinh phát hiện các cuộc phóng tên lửa, các vệ tinh trinh sát chụp ảnh KH và các vệ tinh trinh sát bằng ra-đa. “Các vệ tinh gián điệp mới nhất của Mĩ có thể nhìn thấy các đường phố ở Bắc Kinh, thậm chí khi thời tiết đẹp có thể thấy tuyến đường dây cao áp của thành phố này”, vệ tinh đem lại khả năng tình báo rất cao cho quân đội Mĩ. Tuy nhiên hạn chế của phương thức nàylà độ chính xác thấp, chủ yếu dùng trinh sát các mục tiêu chiến lược, cố định; phụ thuộc điều kiện khí hậu, thời tiết; do bay theo những quĩ đạo có qui luật, dễ bị phán đoán, đề phòng trước; chỉ tối ưu trong báo động sớm nhưng hạn chế trong thu thập tin tức tình báo; dễ bị gây nhiễu và mất tác dụng.

Trinh sát bằng máy bay

Mỹ đặc biệt đầu tư phát triển các máy bay trinh sát có và không người lái, hoạt động ở các độ cao khác nhau với nhiệm vụ và mục đích khác nhau, được hiện đại hoá về cả các phương tiện trinh sát, truyền thông cũng như khả năng tự vệ, gồm: MBTS và gây nhiễu EA-6B; Các MBTS báo động sớm AWACS (E-A3); MBTS tầm cao U-2, TR-1; RC-135 trinh sát chiến lược; Các MBTS chiến thuật EF-111, RF-4C, MBTS không người lái Predator, Global Howk… Hạn chế: phụ thuộc điều kiện thời tiết, khí hậu ở khu vực tác chiến; dễ bị đối phương phát hiện làm lộ ý đồ trinh sát hoặc bị tiêu diệt, cản phá; các MBKNL thường có đường bay ổn định, phụ thuộc nhiều vào địa hình, có thể bị đối phương đoán biết, tiêu diệt hoặc đề phòng…

Trinh sát trên tàu

Trinh sát trên tàu là thế mạnh của Mỹ. Với lực lượng Hải quân hùng hậu, có trang bị hiện đại và có nhiều căn cứ trên biển, Mỹ có thể tiếp cận được vào mọi bờ biển trên thế giới. Trên biển Đông và TBD, thường xuyên Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động, trong đó có trinh sát quân sự đối với Việt Nam.

Các tàu chiến chủ yếu của Mỹ đều được trang bị các hệ thống chặn bắt tín hiệu, định vị và TCĐT, giúp phát hiện các hoạt động điện tử của các tàu tuần tiễu, tàu tên lửa, tàu quét mìn của hải quân đối phương trong khu vực tác chiến Hạn chế: Khu vực hoạt động và cự ly phát hiện các mục tiêu trên biển bị ảnh hưởng của độ cong trái đất; khi tiếp cận vào trinh sát đối phương thường lệ thuộc vào điều kiện khu vực biển, khả năng vào được gần bờ...

Trinh sát trên mặt đất

Mỹ & ĐM có các trạm trinh sát SIGINT đặt tại các căn cứ mặt đất dùng chặn bắt từ xa các tín hiệu tên lửa, tín hiệu đặc biệt khác trong không gian và các trạm trinh sát ra-đa dùng phát hiện các đài ra-đa đối phương, đặt trên đất liền đảo các nước thân Mỹ.

Mỹ có thể sử dụng hàng loạt thiết bị trinh sát và gây nhiễu sử dụng một lần, được nguỵ trang dưới các dạng thực vật, rải vào khu vực tác chiến bằng máy bay các loại. Thông tin thu được sẽ truyền về trung tâm chỉ huy hoặc tự chúng lựa chọn phương án gây nhiễu theo chương trình đã được cài đặt trước.
Hạn chế: các thiết bị này có độ phân biệt thông tin thật, giả kém, dễ bị gây nhiễu và vô hiệu hoá khi bị phát hiện.

Mặc dù mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, vì vậy hiện nay Mĩ và các đồng minh, cũng như các nước có khoa học quân sự tiên tiến khác như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ thường sử dụng tổng hợp nhiều thiết bị trinh sát gián điệp để chụp ảnh trên không, trinh sát trên biển, theo bám thiết bị hồng ngoại, theo dỗi thay đổi từ trường, trinh sát tín hiệu điện tử…

Việc tiến hành trinh sát và thu thập tin tức tình báo không những tập trung vào lĩnh vực quân sự mà còn mở rộng ra cả các lĩnh vực chính tri, kinh tế, khoa học công nghệ cả các góc độ cuộc sống của dân chúng.
Trinh sát điện tử được hỗ trợ bởi các công nghệ hiện đại nhất hiện nay, nhưng không phải cứ hiện đại là có thể giành chiến thắng, lấy ví dụ trong cuộc chiến xung đột Israen- Hecbola vừa qua sự kiện tên lửa đối hạm C-802 của Hecbola bắn chìm tàu hộ tống Eliat Saaz 5 của Israen đã đặt ra nhiều câu hỏi, tại sao các phương tiện trinh sát hiện đại của Israen không phát hiện vị trí tên lửa C802, cũng như thời điểm phóng tên lửa.
Ta thấy bất cứ phương tiện nào, dù hiện đại đến đâu đều có điểm yếu riêng và việc nghiên cứu tìm ra các điểm yếu của đối phương để tiến hành phòng chống vô hiệu hóa các thiết bị trinh sát là rất quan trọng.
Xu hướng phát triển của các hình thức trinh sát và tác chiến điện tử nói chung.

a) Xu hướng chung:

Hiện đại hoá trang thiết bị gây nhiễu nhiều chủng loại, công suất lớn, gây nhiễu trên mọi phổ tần (phổ tần rộng, đa phổ), nhiều đối tượng chế áp.

Kết hợp các phương tiện tiến công đường không hiện đại; dùng kỹ thuật bức xạ điện từ, hồng ngoại, laze, nhiệt, vật liệu mới huỷ diệt các thiết bị điện tử của đối phương; tiến hành đồng bộ với cuộc chiến tranh không tiếp xúc.

Trong CD “Sức mạnh đồng minh” chống NT, các hoạt động tác chiến cho thấy: Các phương tiện TCĐT không chỉ có khả năng phá hoại các hệ thống VTĐT mà cả các hệ thống cung cấp năng lượng bao gồm cả đường dây truyền tải… Mục tiêu của TCĐT và VKCNC ngoài hệ thống điều khiển chiến tranh còn cả hệ thống quản lý nhà nước, phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống năng lượng…

b) Một số hướng phát triển mới:

Chiến tranh thông tin và chiến tranh tâm lý: Phá hoại cơ sở truyền tin, phát thanh của đối phương, cắt các đường thông tin qua vệ tinh. Dùng các phương tiện phát sóng AM,FM và truyền hình với nội dung xuyên tạc sự thật, gây hoang mang cho quân đội và nhân dân, giảm lòng tin và ý chí chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.

Chiến tranh mạng

  • Áp dụng công nghệ mới như công nghệ nano, vật liệu mới…
  • Sử dụng các vũ khí phi sát thương.


c) Các biện pháp chủ yếu chống tác chiến điện tử của địch

  • Chuẩn bị đối phó chiến tranh không tiếp xúc, bảo toàn lực lượng, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch, bảo vệ các phương tiện điện tử quân sự để đánh lâu dài.
  • Đầu tư vào CN-KT mới có chọn lọc, cải tiến và nâng cấp VK-TB.
  • Đầu tư về con người về cả tinh thần, ý chí chiến đấu, trình độ KH-KT và chuyên môn.


Từ thực tiễn những cuộc chiến tranh gần đây, cần đi sâu nghiên cứu, phân tích, tìm ra quy luật của chiến tranh để chỉ đạo kịp thời, phù hợp với thực tiễn chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Nếu biết phát huy nhân tố con người và truyền thống dân tộc thì không có máy móc nào có thể dự đoán chính xác được. Những hạn chế của các thiết bị trinh sát, kĩ thuật trinh sát cần được nghiên cứu một cách cụ thể, trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp đối phó có hiệu quả như:

  • Vận dụng tổng hợp các biện pháp chống TSĐT.
  • Thực hiện "im lặng VTĐ“, đồng thời sử dụng các đài nghi binh có thể làm cho hoạt động trinh sát không thể thực hiện hoặc bị rối loạn.
  • Phát sóng, bộc lộ lực lượng đúng thời cơ.
  • Biện pháp chiến thuật: Cơ động phòng tránh, đánh trả.


Theo Từ điển wikipedia
      
      

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Quyền hạn của bạn

Bạn không có quyền trả lời bài viết
free counters



  • Đoàn Ngọc Khánh

    mobile phone 098 376 5575


    Đỗ Quang Thảo

    mobile phone 090 301 9666


    Nguyễn Văn Của

    mobile phone 090 372 1401


    IP address signature
    Create a forum on Forumotion | © PunBB | Free forum support | Liên hệ | Báo cáo lạm dụng | Thảo luận mới nhất