Change background image
LOVE quotion

Bắt đầu từ 4.53' thứ Hai ngày 17/10/2011


You are not connected. Please login or register

Chuyển đến trang : 1, 2  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 2 trang]

Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

NỘI DUNG:
01. Nữ giới quyến rũ vì đâu?02. Kẻ địch trong nhà bếp03. Phá rừng và trồng rừng04. Những kiểu ăn xin trên thế giới05. Người đàn bà trên đồi cỏ06. Mặc áo cho hoa07. Quyến rũ bằng hương thơm08. Phiếm luận về giày - 09. Màu sắc của thời trang10. Những biến tấu của chiếc áo dài11. Ðàn ông làm điệu12. Biện hộ cho vòng số Bốn13. Bạn có dám tỏ tình như thế không?14. Hạnh phúc trong một chiếc lá15. Sợ vợ16. Nỗi khổ của người hai vợ17. Huyền thoại về người chồng bản lãnh18. Hỏi thế gian: tình là vật gì?19. Vinh quang của người sợ vợ20. Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây lấy vợ Nhật21. Gài độ nhậu22. Hứa lèo – 23. Tôi đi chợ24. Xâu chìa khóa25. Cặp song tấu ghi-ta huyền thoại – 26. Chuyện phiếm về con trâu27. Cuộc vượt biên ngắn ngủi28. Lang thang trong mùa đông29. Bùi Giáng  - 30. Văn Cao – 31. Nguyễn Thúy Hằng từ miền đất xa lạ32. Con gái của rừng33. Chuyện nhảm nhí34. Ngôn ngữ trong văn học và nghệ thuật35. Chiều thứ tư của ngôn ngữ36. Phim Mỹ đủ thứ chuyện37. Đông và Tây38. Lục tài tử Cam Ranh – 39. Trung Quốc đỏ và đen40. Dư âm của hoài niệm rời41. Cưỡi ngựa xem Hoa Kỳ42. Đào Hiếu quê một cục43. Những bông hồng muộn44. Thay lời bạt.

1. Nữ giới quyến rũ vì đâu?

Nếu đời không có đàn bà thì đàn ông chỉ biết nhậu, coi đá banh rồi … chết. Nếu trên thế giới số lượng đàn bà chỉ bằng một phần mười đàn ông thì mười ông Adam sẽ giành nhau một bà Eva, sẽ đánh nhau rồi cũng … chết. Còn nếu như đàn bà nhiều hơn đàn ông như hiện nay thì đàn ông vẫn tiếp tục lai rai bỏ mạng vì bị đàn bà nó ghen, nó hành cho chết.

Nhưng tại sao quý ông cứ lẽo đẽo chạy theo đàn bà?

Đó là vì đàn bà có sức quyến rũ.

Trước hết sự quyến rũ nằm ở làn da. Dân gian thường ví da cô gái đẹp trắng như tuyết, nhưng dưới con mắt của bác sĩ da liễu thì da trắng như tuyết là da bị bệnh bạch tạng (albinisme), tế bào da không có hắc tố (mélanine). Bệnh này rất khó trị. Vậy làn da đẹp phải trắng hồng, tươi nhuận, săn chắc, lỗ chân lông nhỏ và nếu có một chút lông tơ lại càng hay. Phụ nữ châu Âu da trắng quá nên họ muốn làm cho rám nắng bằng cách phơi nắng trên những bãi biển mùa hè.

Tuy nhiên cũng có những thiếu nữ da màu đồng. Làn da ấy đi đôi với cái dáng cao, thon thon, với mái tóc đen hoang dã sẽ gợi lên hình ảnh một thiếu nữ Digan huyền thoại.

Tiêu chuẩn sắc đẹp ngày nay trước hết là phải cao. Chiều cao cộng với số đo lý tưởng của ba vòng là niềm hãnh diện của nữ giới. Hiện nay có một câu nói được truyền miệng trong giới người mẫu thời trang: “Người đàn ông thành đạt là người ra đường với một phụ nữ cao hơn mình”. Còn tôi, tôi lại nghĩ rằng: “người phụ nữ không thành đạt là người ra đường với một người đàn ông không cao hơn mình”.

Nhưng khi người ta nói cao hay thấp, mập hay ốm thì cũng chỉ muốn tả cái dáng. Ra phố, ồn ào, bụi bặm, nắng cháy, phụ nữ ai cũng che mặt kín mít như người Ả Rập, không thấy mặt nhưng vẫn thấy cái dáng. Vẫn bị sức hút của nó.

Lần đầu tiên Kim Trọng gặp Thúy Kiều cũng chỉ nhìn thấy cái dáng chứ chưa nhìn rõ mặt vì chàng đang bận trò chuyện với Vương Quan còn hai cô Kiều thì đang “e lệ nép vào dưới hoa”.

Tuy nhiên:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai


Mới nhìn thấy cái dáng từ “nẻo xa” mà đã bảo mặt mũi người ta “mặn mà” thì rõ ràng là cái dáng đã bỏ bùa chàng Kim rồi còn gì!

*

Đó là nói về da và dáng người. Bây giờ sang tới răng và tóc.

Nói tới răng, thấy ớn lạnh. Nhưng bạn đã từng “được” một hàm răng huyền thoại cắn bật máu chưa?

Hãy bỏ ra mười năm đi khắp thiên hạ, tìm cô nương có hàm răng ngà ngọc ấy rồi quỳ xuống cho người ta … cắn. Yên chí, bạn sẽ không bị lây bệnh dại đâu nhưng hãy coi chừng cú cắn đó sẽ làm bạn đau khổ suốt đời.

Người có hàm răng đẹp chắc chắn phải có cái miệng rất đẹp. Tôi vẫn nghĩ rằng miệng là bộ phận quan trọng nhất trên gương mặt một người nữ. Nếu người đời vẫn hay nói rằng: đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, thì cũng phải nói: miệng là cửa lớn của tâm hồn. Bởi vì một cái miệng tươi cười chính là lời chào, là sự làm quen, là sự khuyến khích. Chính cái miệng đã nhận lời hẹn hò, đã tỏ tình, và cũng chính nó nhận nụ hôn đầu tiên của ta.

Khi nhớ về một người nữ tôi vẫn thường nhớ cái miệng chứ không phải đôi mắt.

Thế còn tóc?

Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm.


Tóc mai là tóc gì mà quan trọng vậy? Người xưa hay để tóc mai dài ở thái dương, vuốt cong lên hai bên má, có khi xoắn lại như cái lò xo. Người có tóc mai đẹp chắc chắn sẽ có mái tóc đẹp. Tóc dày như rừng. Tươi mới. Thanh xuân. Mạnh mẽ. Cuồng nhiệt. Thử hỏi làm sao không thương hoài ngàn năm cho được.

Cuối cùng là đôi mắt.

Sách tướng số ghi:

Những người ti hí mắt lươn
Trai thời trộm cắp gái buôn chồng người.


Thật ra mắt lươn hay mắt phượng là vấn đề nhân chủng học, chẳng dính dáng gì tới tướng số. Người Hàn Quốc, người Nhật đa số là mắt lươn mà họ rất văn minh, rất đáng yêu. Cái quan trọng không phải là mắt lươn hay mắt phượng mà chính là cái “thần” của con mắt.

Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi là tứ đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc có “cái thần của con mắt” ấy. Họ liếc một cái nghiêng cả thành quách, liếc cái thứ hai sụp cả chế độ (nhất cố khuynh thành, tái cố khuynh quốc).

Con gái Việt Nam cũng không hiếm mắt một mí, nhưng có chàng thi sĩ kia cũng muốn phát rồ vì đôi mắt ấy:

Mắt một mí vì không cần hai mí
Một mí thôi cũng đủ ngả nghiêng đời
Mắt hai mí tức là thừa một mí
Một mí thừa xin để lại cho tôi.


Vậy thì sự quyến rũ trong đôi mắt đàn bà chính là cái ma lực bí ẩn. Có những ánh mắt như thu hồn người ta, có những đôi mắt quyến rũ đàn ông bằng sự tự tin, đằm thắm… Mỗi người đàn ông thích một ánh mắt khác nhau nhưng những người đàn ông có tật đá lông nheo thì chỉ thích những ánh mắt lẳng lơ, còn các chàng hay dụ dỗ gái vị thành niên thì lại ưa sưu tầm những cặp mắt nai tơ ngơ ngác…

Tóm lại, mỗi kiểu mắt có sự quyến rũ riêng, chỉ trừ những ánh mắt vô hồn, thờ ơ, tẻ nhạt thì chắc chắn không có người đàn ông nào thích.

Nhưng một người phụ nữ quyến rũ thực ra không nhất thiết phải hội đủ những tiêu chuẩn về cái da, cái dáng, về “răng hàm mặt”  hay “tai mũi họng” … mà có khi chỉ cần một cái miệng cười.

Đôi khi gặp một người phụ nữ không có gì đặc sắc. Mà ta vẫn yêu.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

2. Kẻ địch trong nhà bếp

Có những người đàn ông rất hào phóng, thấy bạn bè nghèo không có chỗ ở liền mời về nhà ở chung, vô quán nhậu nhớ bạn hiền cũng bấm phone rủ đến lai rai ba sợi, có cái xe hơi, bạn muốn mượn, cứ lấy đi thoải mái. Loại đàn ông ấy trên đời này không phải là hiếm.

Nhưng có một thứ mà người đàn ông không bao giờ chịu chia sẻ với ai, đó là vợ mình. Chỉ cần một câu nói, một cái liếc mắt là anh chồng đã “xù lông” lên, sẵn sàng chiến đấu.

Vậy mà có một gã từ nhiều năm nay đã phải chia sẻ bà vợ duy nhất của mình cho một người đàn ông khác mà không hề than thở. Gã này là một quan chức nhà trời, có quyền gặp trực tiếp Ngọc Hoàng để báo cáo tình hình dưới trần gian mỗi năm.

Đó chính là ông Táo.

*

Dân ViệtNamta, hễ cứ đến ngày 23 Tết là cúng ông Táo, đốt vàng mã, lưu luyến tiễn ngài về trời mà không hề xét lý lịch xem ông ta là ai, có đáng để cho ta tin cậy và tôn kính đến như thế không?

Trước hết, ông ta là một thằng bất tài vì trên thế gian này dù sang hay hèn, dù giàu hay nghèo, dù quân tử hay tiểu nhân… ai ai cũng có một bà vợ, chỉ riêng ông Táo là không thể có. Ông ta phải chia sẻ vợ với một táo quân khác trong nhiều ngàn năm nay. Và như thế thực chất ông ta chỉ có nửa bà vợ.

Táo quân còn là một thằng hèn vì đã không đủ dũng khí để giành vợ mình khỏi tay người khác. Đêm nào ông cũng nghiến răng nhìn vợ mình “quằn quại” dưới ách xâm lược của người đàn ông khác mà không dám hé nửa lời.

Bất tài, hèn lại còn khiêu dâm nữa! Có lần Táo quân từ nhà bếp ra chợ để mua một con cá chép làm phương tiện bay về trời, ông ta bị quần chúng phát hiện đang … ở truồng! Lũ con nít chạy theo tốc áo lên coi, Táo quân giận quá rút đôi hia ra ném, tụi nhỏ vừa bỏ chạy vừa cười nhạo.

Nhưng chúng ta hãy bỏ qua cái chuyện Táo quân ở truồng ra phố đi, vì dẫu sao cái mốt “đội mũ mang hia chẳng mặc quần” cũng là đồng phục của nhà Táo.

Hãy sang một vấn đề khác.

Xưa nay ai ai cũng kính trọng Táo quân vì nghĩ rằng ông ta đứng về phía lẽ phải, hàng năm đều có dâng sớ lên Ngọc Hoàng Thượng Đế để tố cáo tham nhũng và những tệ nạn khác dưới trần gian, nhưng sự thật là Táo quân chỉ báo cáo những vụ bê bối lặt vặt ở trong…bếp như anh chồng ăn vụng với cô sen, bà chủ tò te với anh tài xế, còn những vụ tham nhũng lớn tầm cỡ quốc gia, trị giá hàng trăm hàng ngàn tỷ đồng thì ông ta đếch dám động tới. Kết quả là tham nhũng và tệ nạn ngày càng nhiều, lộng hành trên khắp ViệtNam, vô phương cứu chữa.

Còn nữa, Táo quân là một kẻ tham quyền cố vị vào loại nhất thế giới. Quý vị chỉ cần điểm mặt một số kẻ tham quyền cố vị nổi tiếng của nhân loại thì sẽ rõ ngay: Này nhé, Fidel Castro làm vua xứ Cu Ba nghèo đói suốt 49 năm trời không chịu nhường cho ai, cuối cùng già quá, tay chân run rẩy, hết xíu oách đành phải nhường ngôi cho…em trai mình. Kim Nhật Thành làm vua xứ Triều Tiên 46 năm và tự phong là “chủ tịch vĩnh cửu”, cuối cùng trao ngai vàng cho con trai minh là Kim Jong-il, anh này còn chơi ngoạn mục hơn: đưa một thằng con nít miệng còn hôi sữa tên là Kim Jong-un lên làm đại tướng, ngồi chờ sẵn khi nào bố ra hiệu thì đặt mông vô ngai vàng liền, đố người nào tranh cướp được! Người thứ ba là Mao Xếnh Xáng, ngồi trên ngai vàng 33 năm, cuối đời dùng mọi thủ đoạn trong Cách Mạng Văn Hóa để loại bỏ đồng chí mình, âm mưu đưa… bà xã Giang Thanh lên ngai, tiếc thay đã thất bại. Tóm lại, xưa nay “bám ghế” lâu nhất cũng bốn năm chục năm, chưa có ai bám ghế kỷ lục như Táo quân nhà ta. Từ khi có dân tộc ViệtNam, cứ tạm cho là đời Hùng Vương tới giờ, ông ta cứ giữ rịt lấy cái ghế Táo quân ấy suốt hơn bốn ngàn năm nay “một tấc không đi, một ly không rời”. Và chắc chắn ngày nào còn dân Việt, có lẽ ông ta vẫn còn giữ chặt cái ghế đó.

Và vì suốt nhiều ngàn năm nay ông ta không chịu về hưu cho nên cứ được hưởng lương trăm phần trăm dài dài, chưa kể các khoảng “lộc” khác như nhà, đất, đi du lịch nước ngoài… Và có thể nói Táo quân là anh cán bộ duy nhất trên đời này không bao giờ nghỉ hưu.

Nhưng ông ta làm công tác gì mà quan trọng đến nỗi không ai có thể thay thế được?

Chẳng qua ông ta chỉ là một tên chỉ điểm, tối ngày lẩn quẩn trong xó bếp rình rập nhà dân xem có ai phát ngôn bừa bãi, bôi xấu chế độ, xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm lãnh đạo, xem có trang web nào phản động, có blog cá nhân nào chống Đảng, chống tham nhũng, độc tài, tay sai ngoại bang … để lập báo cáo mật chờ đến cuối năm cưỡi cá chép về trời, chạy thẳng vô đồn công an tâng công lấy điểm.

Như vậy, xét về tư cách thì Táo quân chỉ được không điểm, xét về đạo đức, người dễ tính cũng cho nửa điểm là cùng. Còn xét về trình độ văn hóa thì một thằng cha tối ngày chỉ biết “đội” đít nồi, chưa hề thấy hắn đi học bao giờ, thì chỉ có thể làm một tên chỉ điểm hạng bét mà thôi.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

3. Phá rừng và trồng rừng

Có anh bạn đi Trung Quốc về, nói: Hàng Châu đẹp quá. Hỏi: đẹp ở chỗ nào thì đáp: nó có nhiều rừng, rừng ở ngay trong thành phố, xanh mát, yên tĩnh. Công viên như rừng mà đường phố cũng như rừng, đặc biệt là rừng trúc.

Nhưng không phải chỉ cóHàng Châu,Singapore, Kuala Lumpur… mà cả Paris,Boston, Washington DC… đều có rừng ngay trong thành phố. Ý niệm “thành phố rừng” đã có từ lâu lắm. Khi triều đại các vua Louis bên Pháp xây dựng điện Versailles thì đó cũng là nơi rừng tiếp giáp rừng, các Sa hoàng xây Cung điện Mùa Hè ở Saint Petersburg cũng đã trồng cả những khu rừng bạt ngàn trong khuôn viên mênh mông của mình.

Đà Lạt của Việt Nam cũng là một thành phố rừng. Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa, thuở người ta còn biết quý rừng, biết trân trọng từng ngọn thông, từng tán lá. Ngày nay Đà Lạt đang bị “quy hoạch” phân lô, bán nền nhà…Rừng bị đẩy lùi về phía xa, phía những dãy núi…

Nhật Ký Đỗ Thọ có kể một giai thoại: Ngày nọ, tổng thống Ngô Đình Diệm lên nghỉ mát ở Đà Lạt. Buổi sáng như thường lệ ông mở cánh cửa sổ để ngắm rừng thông thì ngạc nhiên khi nhìn thấy một khoảng trống ở cuối tầm mắt. Ông gọi điện thoại cho thị trưởng Đà Lạt. Thị trưởng sợ quá, lập tức có mặt. Vừa đẩy cửa bước vào, chưa kịp vái chào “cụ” thì cái gạt tàn thuốc đã bay thẳng vô mặt. Không dám né tránh, thị trưởng run rẩy thưa: “Bẩm cụ, cụ có điều chi dạy bảo?”. Ông Diệm hét lên: “Ai chặt rừng?!”.

Phải chi chúng ta cũng biết yêu rừng như tổng thống Ngô Đình Diệm thì hy vọng có thể cứu được Đà Lạt.

*

Bạn tôi là giáo viên cấp ba, sau 75 bị “mất dạy” chuyển nghề chạy xe ôm. Từ Quy Nhơn anh bạn tót lên Gia Lai kiếm sống. Ngày ngày anh chở dân buôn qua lại, dọc biên giới Campuchia, Lào. Đó là các chị buôn thuốc lá, nhu yếu phẩm, đó là các tay lâm tặc vô rừng buôn gỗ lậu, cần những tay lái gan dạ thuộc lòng các trạm kiểm lâm, luồn lách, băng rừng vượt suối vào sâu trong rừng giao dịch làm ăn với các “đối tác” sơn lâm khác.

Đồng nghiệp và cũng là đồng hương của anh là một gã hồi nhỏ bị “té vô thùng đinh” nên mặt lồi lõm trông rất ngầu. Gã có một chiếc BS tức là chiếc xe máy hiệu Bridgestone hai thì chạy xăng pha nhớt. Loại xe này rất đắc dụng đối với đường rừng hiểm trở vì nó chạy mát máy. Những tay lâm tặc có vẻ ưa chuộng gã hơn anh bạn tôi vì gã rất dày dạn và quan trong hơn: gã hiểu biết nhiều về gỗ của rừng Gia Lai, tất nhiên không phải nhờ vào trình độ văn hóa cấp hai của gã, mà nhờ đã lăn lộn với nghề cưa xẻ gỗ nhiều năm trên địa bàn này.

Các tay lâm tặc từ các nơi về Gia Lai tìm mua gỗ vừa nhờ gã đưa rước vừa nhờ gã mách nước cho chỗ nào có loại gỗ quý mà bọn họ cần mua. Ban đầu các lâm tặc chỉ trả tiền xe ôm, cộng chút ít tiền “bo”, về sau thấy gã xe ôm nọ lanh lợi quá, đắc dụng quá, thấy vai trò của gã như một cố vấn, chẳng những về nghề gỗ mà còn về cách luồn lách tránh né hoặc mua chuộc kiểm lâm nên các đại gia buôn gỗ nọ phải thỏa mãn một số yêu sách của gã, chẳng hạn như khi chở gỗ về đồng bằng, họ bằng lòng cho gã “ké” chừng 5 hoặc 10 mét khối gỗ của gã.

Nhờ khai thác nhiều đại gia như thế nên gã đã đưa ra thị trường khá nhiều gỗ mà không cần xin giấy phép gì cả. Gã trở nên giàu có. Gã từ giã nghề chạy xe ôm và trở thành một tay buôn gỗ lậu chuyên nghiệp.

Nhưng bước ngoặt đời gã bắt nguồn từ khi gã trúng đợt gỗ pơ-mu.

Pơ-mu (fokienia) là một loại gỗ rất quý hiếm, còn có tên gọi là “bách Phúc Kiến” mùi thơm, vân gỗ đẹp, nhìn bề ngoài nó rất giống gỗ thông nhưng trong khi thông là một thứ gỗ xấu, chỉ dùng làm giàn giáo, đóng bàn ghế loại bình dân thì pơ-mu là gỗ quý, không hề bị mối mọt, bền chắc, người ta dùng nó để chế tác các mặt hàng gỗ mỹ nghệ và trang trí nội thất cao cấp, ngoài ra rễ cây pơ-mu còn có tinh dầu rất quý được chưng cất dùng trong ngành hóa mỹ phẩm và trong y học. Cây pơ-mu đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam năm 1996 vì đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Khi phát hiện ra loại gỗ này, gã đã trà trộn nó với gỗ thông và kiếm lời gấp trăm lần số vốn bỏ ra. Có thể nói gỗ pơ-mu là chiếc đũa thần đưa gã lên hàng đại gia từ đó.

Khi đã có nhiều tiền, gã loại bỏ các đối thủ như chi Tư, chị Bạch…làm bá chủ võ lâm, phô trương thanh thế, mua chuộc, cấu kết với giới cầm quyền các cấp, kinh doanh nhiều lãnh vực khác như đá granit, địa ốc…

Hệ thống ngân hàng trở thành đồng minh thân cận của gã.

Các dịch vụ của gã nghe thì to lớn, “tầm cỡ” “đẳng cấp”… nhưng thực chất là chặt rừng bán gỗ làm giàu.

Còn anh bạn giáo viên của tôi, đồng nghiệp của ngài lâm tặc kia thì nay đã trở lại nghề dạy học. Và thỉnh thoảng trong chút men rượu, anh cũng không quên “khoe” mình từng là chiến hữu của đại gia đó!

*

Cây đước tự mọc thành rừng trong nhiều ngàn năm. Lửa trời cũng từng đi qua trong những mùa khô hanh, đốt phá rừng. Chiến tranh cũng từng đến, bom lân tinh thiêu rụi từng mảng, rồi con người chặt cây làm nhà, hầm than, thả bè trôi về phố chợ làm vật liệu xây dựng. Nhưng những khu rừng ngập mặn vẫn tồn tại. Cây đước tự phát triển, biết cách để sinh tồn, biết sinh đẻ, nhân giống, biết xếp hàng thành rừng. Những thế hệ rừng nối tiếp, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh cũng giống như cỏ trên thảo nguyên mênh mông không ngừng sinh diệt mà vẫn tồn tại.

Cây đước già ra hoa kết trái. Trái nó dài chừng hai gang tay, mình tròn, treo lủng lẳng như những trái dưa chuột dài ốm nhách. Hàng triệu trái đước đong đưa chực chờ phía trên mặt nước, phía trên mặt bùn nhão, như một thế hệ đông đảo những cư dân mới, sẵn sàng thả mình cắm phập một đầu xuống bùn để xác định chỗ đứng, xác định sự góp mặt của mình trên mặt đất.

Từ chỗ vừa “cắm dùi” ấy, chúng sẽ lớn lên thành khu rừng mới, vươn những ngón chân dài bấu vào đất, bám trụ vững chắc như “kiền ba chân”, thân thì ngoi lên khỏi mặt nước, mọc ra những cái nhánh, phủ xanh một vùng lãnh thổ.

Mặc cho con người tàn phá, rừng vẫn tự tái tạo, vẫn sống và ôm ấp, bảo lãnh, che chở cho cả một hệ sinh thái đa diện dưới chân nó: con người, con cua, con còng, con cá. Và chim chóc, khỉ, rắn, cá sấu. Và ong.

Cũng có khi, do tham vọng, con người hối hả tàn phá rừng với tốc độ nhanh gấp mấy lần một chu kỳ sinh trưởng. Rừng hở lưng, lạnh gáy, lạnh xương sống. Rừng thấy trống trải và yếu đuối trước những cơn bão, những trận lũ quét, những mưa nguồn.

Rừng hấp hối.

Rừng Tây Nguyên cũng hấp hối. Những dãy núi chết phơi tấm da màu huyết dụ giữa trời. Con người lột da rừng, trơ ra lớp thịt bầm dập bị hun khói nám đen. Đó là những khu rừng ở Tây nguyên đã bị hỏa thiêu ngay trước mắt tôi, nằm chết khô giữa tro than và đất cằn, vụn nát.

Rừng Cà Mau cũng đang bị tàn phá theo từng thời vụ: nó đang trở thành nguồn cung cấp vật liệu xây dựng cho những thành phố, nguồn than cho những khu dân cư…

*

Vậy mà từng ngày vẫn có những cô gái nhỏ chèo xuồng dọc theo những con nước len lỏi giữa rừng già, một tay quẫy mái chèo, một tay gom những trái đước già đang nổi trôi trên mặt nước đục.

Những chiếc xuồng lặng thầm nối đuôi nhau đi nhặt những trái đước. Những chiếc xuồng không chở trăng sao, không chở tao nhân mặc khách. Những chiếc xuồng đi nhặt sự sống của rừng, những chiếc xuồng đi gom góp một thế hệ mới cho đất.

Và sau đó là những đôi chân khẳng khiu, đen đủi, lội trong nước mặn, trong bùn sình trồng từng mầm sống xuống đất đen.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

4. Những kiểu ăn xin trên thế giới

Ăn mặc rách rưới, thấy khách bộ hành đi đến thì chìa tay ra, chìa cái mũ ra, dọn sẵn một bộ mặt bi thương, chuẩn bị một giọng nói thống thiết. OK. Đó là diễn xuất của những người ăn xin thông thường.

Khi lối diễn ấy không có hiệu quả, người ăn xin thường dùng cả thuật hóa trang. Dùng cả đạo cụ. Thuốc đỏ, bông gòn và băng dán có thể dễ dàng biến một cái chân lành lặn thành ghẻ lở, đầy thương tích. Khi bị cảnh sát rượt đuổi, họ có thể chạy rất nhanh nhưng sau đó lập tức biến thành một gã què, lê lết vỉa hè, đầu chợ, miệng hát nghêu ngao những lời ai oán.

Người khó tính có thể lật tẩy họ bằng cách giật tung những bông băng để chứng minh với thiên hạ rằng họ đang đóng kịch, đang lừa bịp, nhưng người dễ tính thì nói: “Cứ coi như đó là một cái nghề. Họ cũng đóng kịch như ai, có điều tư thế của họ hèn kém hơn, họ không có sân khấu, không có bục diễn, họ chỉ có vỉa hè, xó chợ vì thế mà họ chỉ ‘lượm bạc cắc’.”

Lại có loại người ăn xin có chút tài năng. Một người què nhưng biết hát, người kia mù lại biết đàn. Người hát có khi còn cầm một cái săn để đánh phách. Sàn diễn của họ thường là các quán ăn bình dân. Họ đi từng bàn, người hát người đệm đàn, giúp vui. Họ có vẻ chuyên nghiệp hơn những bạn diễn ở vỉa hè, đầu chợ. Ở châu Âu “loại hình nghệ thuật” này khá phổ biến. Tại nhà ga Paris Nord bạn có thể nhìn thấy một cô bé trạc mười hai mười ba tuổi, gốc Đông Âu, chơi đàn vĩ cầm trong một buổi sáng giá lạnh. Trong lòng chiếc mũ nỉ của cô bé cũng có được mấy đồng bạc cắc. Bên Đức tại thành phố Dresden cổ kính người ta cũng dễ dàng tìm thấy những người hát rong đứng trên hè phố vừa chơi viôlông vừa kéo phong cầm và có cả hắc tiêu. Âm nhạc của họ không ai oán, không than vãn, nhưng mục đích của họ cũng là xin tiền và khán giả của họ cũng là những khách bộ hành ngẫu nhiên đến và dừng lại một giây đủ để ném vào chiếc mũ nỉ hay chiếc mâm nhỏ những đồng bạc cắc.

Ở Việt Nam có những người tàn tật hoặc những em bé ốm đói chuyên nghề bán vé số dạo. Có người thương cảm, thay vì mua vé số lại cho tiền nhưng họ không nhận, họ chỉ cười, nói cám ơn rồi bỏ đi. Nhưng cũng có người nhận tiền và đó cũng là một dạng ăn xin không chuyên nghiệp.

Lại có kẻ đóng vai các nhà sư khất thực, lợi dụng sự mộ đạo của quần chúng. Ở nhà họ có thể là một bợm nhậu, buổi tối họ có thể là một tay xí phé có máu me nhưng đúng chánh ngọ họ khoác áo cà sa đi chân đất, tay cầm bình bát và…xuống đường. Cách ăn xin này đòi hỏi phải có ngoại hình nhưng không cần phải diễn xuất gì nhiều mà chỉ cần “ngậm miệng ăn tiền” là đủ.

Đã có lần tôi rất xúc động trước hình ảnh một bà mẹ tả tơi bế đứa bé mắt đầy ghèn đang ngủ mê mệt, mặc cho ruồi bu đen kịt trên mặt. Bà mẹ run rẩy lê bước trên hè phố. Về sau có người bảo tôi rằng đó cũng là một màn kịch. Tôi cãi: “Nhưng đứa bé thì không thể đóng kịch được”. Người nọ giải thích rằng đứa bé đã được cho uống thuốc ngủ để nó ngủ suốt ngày.

Trong các mùa thi, đi ngoài phố, chúng ta dễ bắt gặp một chàng trai trẻ ra dáng thư sinh, bước đến chào và nói: “Em ở miền Tây lên thi đại học, không may bị móc túi mất hết tiền bạc, giấy tờ. Em không biết làm sao trở về quê.”

Tình cảnh như vậy thật đáng ái ngại. Nếu bạn gặp một người như thế bạn có sẵn sàng móc ví của mình ra không? Có nghĩa là bạn có tin đó là sự thật?

*

Vài người hỏi tôi: “Bên Mỹ có người ăn xin không?” Tôi bèn kể cho họ nghe hai câu chuyện:

Chuyện thứ nhất là chàng nghệ sĩ vĩ cầm lừng danh thế giới Joshua Bell (chỉ riêng cây đàn của anh đã trị giá tới 3 triệu rưởi đô la!), ngày nọ theo sáng kiến của báo Washington Post anh đã xuống đứng dưới hầm tàu điện ngầm Washington với chiếc mũ để ngửa trước mặt và kéo đàn vĩ cầm.

Trong suốt 45 phút, Bell đã biểu diễn sáu tiểu phẩm của Fritz Kreisler, Bach, Franz Schubert, Jules Massenet, Manuel Ponce. Và ngày hôm đó anh chỉ kiếm được 32 đô la và mấy xu lẻ. Đó là chưa kể một phụ nữ đánh giày gần đó than phiền là gã hành khất này làm ồn quá, chị ta đã mấy lần định gọi cảnh sát.

Chuyện thứ hai: ngày nọ tôi đến San Francisco, ở đó có những khu phố Tàu, nhà cửa san sát, kẻ qua người lại tấp nập như trong Chợ Lớn. Đang tản bộ an nhàn trên phố chợt nhìn thấy một gã Mỹ trắng đang nằm ngửa trên vỉa hè, hai bàn tay để sau gáy làm gối, mắt đeo kính đen, tai gắn earphone, bắc chân chữ ngũ, nghe nhạc. Bên cạnh gã là một chiếc mũ cao bồi để ngửa, cạnh chiếc mũ là một tấm bảng nhỏ với dòng chữ: I’m not hungry, but I need one dollar to drink (tao không đói, nhưng tao cần một đô la để uống rượu).

Có lẽ chỉ ở Mỹ mới có kiểu ăn xin như thế. Nhưng kiểu đó cũng chưa “độc chiêu” bằng kiểu “xin đểu” của giới vỉa hè Hà Nội. Muốn xin tiền ai chỉ cần khệnh khạng bước đến đứng trước mặt và nói: có tiền ủng hộ tí. Cho thì OK, không cho thì rút con dao bấm ra: Thế nào ông anh? Cho mượn cái ví?

Nhưng kiểu xin đểu ấy cũng chỉ là chuyện vặt của giới giang hồ. So với quý vị lãnh đạo Bắc Triều Tiên thì chẳng ăn nhằm gì.

Các ông kẹ họ Kim không thèm rút dao bấm đâu. Họ móc ra một quả bom nguyên tử, thảy thảy trước mặt: Thế nào ông anh Huê Kỳ? ông anh Nhật Bản? Thế nào người anh em ruột thịt phương Nam? Gạo đâu? Nhu yếu phẩm đâu? Xi măng đâu? Thuốc Tây đâu?. Cho thì OK, không cho thì móc thêm một quả tên lửa, đánh diêm châm ngòi nổ, xịt khói tùm lum, vọt lên cao, có khi bay cái vù qua đầu anh Nhật Bản làm cho cô Geisha sợ té đái.

Tuy cái lối “xin đểu” ấy có hơi “Chí Phèo” một chút nhưng lắm lúc cũng xin được tí gạo, mấy cục đường phèn và vài viên thuốc trụ sinh đã hết hạn sử dụng.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

5. Người đàn bà trên đồi cỏ
(ghi theo lời kể của Phượng và các con)
Năm đó chùa Tây Tạng ờ Bình Dương có một vị Phật tên gọi là Tỳ Lô Giá Na và một cô tiên nhỏ tên là Annie Phượng. Buổi tối khi các tín hữu đã xong lễ về nhà, khi thầy trụ trì và các sư sãi đã tụng xong bài kinh Kim Cang Đảnh, khi rừng cây đã im lặng, mái chùa đã chìm khuất trong màn đêm… thì ánh sáng của hai vầng hào quang tỏa ra, ôm lấy ngôi chùa. Một vầng sáng màu tím nhạt, ấm áp của đức Phật và một vầng sáng trắng tinh khiết của Phượng.

Hào quang của Phượng tươi mới, rực rỡ như một khóm hoa lung linh trong sân chùa. Annie Phượng không phải là ni cô, không đi tu, nhưng hai mươi năm sau, khi theo Nguyễn Đức Sơn lên rừng, nàng đã hóa thân thành Bồ tát.

Tôi chưa từng gặp Phượng thời con gái. Cũng chưa từng gặp Phượng năm nàng hai mươi tám tuổi dắt con theo chàng thi sĩ ngông cuồng lên rừng. Tôi chỉ gặp nàng khi nàng đã vượt qua chín tầng địa ngục, qua những cái chết, những cơn bệnh, những đám cháy rừng và những cơn đói.

Nhưng tôi vẫn biết nàng rất đẹp.

Trịnh Công Sơn cũng biết nàng rất đẹp.

Nguyễn Đức Sơn thì nguyền rủa mọi thứ. Tôi nói:

-Tôi đến đây để tìm một Nguyễn Đức Sơn “vĩ đại” nhưng tôi chỉ gặp một Phượng vĩ đại. Nếu không có người đàn bà này, ông đã chết rồi Sơn ạ.

Sơn la hét. Và Phượng im lặng. Luôn luôn im lặng. Một cái bóng mảnh mai ngồi bất động trong hoàng hôn, trên mặt đất đầy lá khô và cỏ. Một khuôn mặt đầy nếp nhăn và một đôi mắt đẹp đầy những dấu chân chim.

*

Năm 1972 Nguyễn Đức Sơn trốn lính, về tá túc ở Bình Dương, dạy Anh văn tại một tư thục. Nếu không gặp Phượng hắn sẽ chẳng có tác phẩm nào ra hồn. Phượng rọi hào quang của nàng vào cái đầu mê gái tơi bời của hắn và hắn được cô “độ” cho thành…thi sĩ. Tác phẩm “Đêm Nguyệt Động” ra đời từ dòng nước cam lồ róc rách tuôn ra từ nhục thể của “thánh cô” Annie Phượng. Và huyền thoại đã bắt đầu:

Năm mười bốn có lần anh ngó thấy

Em cởi truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng

Hồn thảo dã trong đêm vừa thức dậy

Khắp bầu trời ướt mượt cả lông măng

*

Từ dạo đó xác hồn anh mất hết

Một đêm nào trở lại cõi vô biên

Đời anh đó đâu có bằng hạt cát

Đã vô tình vương dưới gót chân em

Từ đó chàng thi sĩ luôn trộn lẫn trần tục với bồng lai nên khi cô nữ sinh “tụt quần xuống đái” thì hào quang cũng rực sáng muôn trùng.



Trên rừng vắng một mình anh hái trái

Bỗng mơ hồ trông thấy quá nhiều chim

Bên nương vắng em tụt quần xuống đái

Anh thấy càn khôn rụng xuống trong tim

Nhưng những vần thơ mê gái thượng thừa ấy cũng không lay động được Annie Phượng. Chàng khóc lóc, rên siết, quỳ lạy…cũng chẳng ăn thua, bèn dùng “khổ nhục kế”. Nếu như ngày nay thì chàng thi sĩ sẽ quấn chất nổ quanh mình rồi lao vào “đánh bom tự sát”, nhưng Nguyễn Đức Sơn thời đó đã trèo lên thành giếng và kêu lên: “Bớ Chúc Anh Đài! Ta chết đây!” làm Phượng hoảng hốt.

Cuộc hôn nhân đã bắt đầu như vậy.

*

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Đức Sơn bỏ đời, đưa vợ con lên núi. Tuy ông không đến nỗi “dở hơi” như Bá Di và Thúc Tề không thèm ăn thóc nhà Chu, nhịn đói mà chết, nhưng ông cũng cực đoan đến nỗi cấm không cho các con học chữ.

Lúc ấy hình như Phượng mới có ba đứa con: Nguyễn Đức Thạch, Nguyễn Đức Thảo và Nguyễn Đức Vân. Hàng ngày hai vợ chồng phải vô rừng bẻ măng, hái rau rừng, đào củ mài về ăn thay cơm. Sau đó họ trồng rau lang vừa để ăn vừa để bán.

Buổi sáng Phượng thường dậy rất sớm. Chiều hôm trước mấy mẹ con đã cắt rau lang bó thành từng bó lớn để sẵn trong sân. Nguyễn Đức Vân giúp mẹ cột các bó rau lên chiếc xe đạp rồi vịn xe cho mẹ ngồi. Phượng đạp xe qua những lối mòn trong rừng để ra chợ. Nguyễn Đức Vân chạy yểm trợ phía sau. Mỗi lần lên giốc Vân đẩy phụ xe cho mẹ. Khi xuống giốc Vân phải rị xe lại, nếu không xe sẽ lao đi, ném Phượng xuống triền giốc.

Hai mẹ con ra đến chợ lúc bốn giờ sáng. Trời còn tối mù, có hôm sương xuống dày đặc nhưng mồ hôi toát ra ướt áo. Vân trải tấm ny-lông xuống đất ngay trước cổng nhà thờ cho mẹ nằm. Phượng, nằm nghiêng, bó gối, thiếp đi.

Khi tiếng chuông nhà thờ vang lên, hai mẹ con thức giấc. Lác đác đã có tiếng người và tiếng bước chân xôn xao quanh khu chợ nhỏ.

Hai mẹ con đẩy xe rau đến đó.

*

Ba anh em tìm được một vạt rau rừng tươi tốt. Hôm nay không có măng và củ mài cũng cạn kiệt, những con nhím đã đến trước và lấy đi hết. Ba anh em trở về với một gùi rau.

Phượng đem rửa ngoài chái nhà và bắc nồi nước.

Trong vò chỉ còn một lon gạo.

Cả nhà xúm quanh nồi rau rừng.

Mớ rau ấy mang những độc tố gì? Sau bữa ăn mọi người đều chìm vào một cơn mê ngủ. Hai vợ chồng và ba đứa con trai, tất cả năm người nhưng chỉ có 4 người thức dậy. Nguyễn Đức Thảo đã ngưng thở. Bệnh viện cũng không cứu được. Thảo chết có lẽ vì sau bữa ăn em còn uống thêm một bát nước rau luộc. Năm ấy em mười ba tuổi.

Em nằm trên chiếc giường tre nhỏ, chiếc áo đang mặc trên người đã rách tả tơi, xơ xác đến nỗi không thể vá được nữa. Phượng ngồi bên giường. Giọt nước mắt mệt mỏi vừa ứa ra đã nhòe trên gò má nhăn nheo.

Mấy anh em không ai có được chiếc áo lành để mặc cho đứa em bất hạnh. Phượng lục tìm trong mớ áo xống của mình, chọn được một chiếc tương đối lành lặn. Bà lấy kim chỉ, ngồi bên giường của đứa con trai, vừa vá lại những chỗ sờn rách vừa khóc:

-Con ơi! Mẹ xin lỗi vì đã không có được một chiếc áo lành để che thân cho con lúc con ra đi. Hãy mặc tạm chiếc áo của mẹ.

Nguyễn Đức Sơn thì bất động như một gốc thông già, lặng thinh như hòn đá nám khói.

Ông chôn con mình trên đồi thông rồi ném cái cuốc xuống triền giốc. Ông ôm lấy nấm đất đen và khóc ngất.

*

Cũng từ đó Phượng im lặng. Nguyễn Đức Sơn thắp ngọn đèn dầu, viết những gì ông nghĩ. Bôi xóa. La hét. Vò nát bản thảo, vứt bừa bãi trong xó tối, trên nền đất đen ẩm ướt.

Phượng đi lại trong túp lều như cái bóng. Bà gom những tờ bản thảo bị vò nát, vuốt cho chúng thẳng ra, xếp lại theo thứ tự rồi ngồi lại cái bàn gỗ ọp ẹp, trước máy chữ. Bà đánh máy lại những tác phẩm của chồng.

Xong việc, bọc theo mấy củ khoai và vác cuốc vô rừng. Bà gom lá khô lại, đốt thành tro rồi đem bón cho những gốc thông mà Sơn đã trồng mấy tuần trước đó. Bà dọn cỏ cho những luống mì, luống khoai. Lưỡi cuốc miệt mài. Hai bàn tay sạm đen, khô cứng.

Mỗi ngày bà làm việc trong rừng tới khi tắt nắng mới về. Cơm nguội buổi sáng vẫn còn. Mấy con cá kho nhỏ như ngón tay. Trong bữa ăn không ai nói gì, cũng không ai than thở.

Đời sống vật vã như cơn gió đang mắc kẹt trong rừng thông. Hoàng hôn che khuất dần mảng trời trước khung cửa.

Hôm sau Phượng lại vác cuốc vô rừng. Buổi trưa, Phượng ngồi trên đồi thông, hát một mình những ca khúc thời con gái. Gió rì rào từ dưới lũng thấp thổi tới.

Phượng vừa chợp mắt đã nghe nóng rát mặt. Gió hừng hực. Nó ập tới mạnh mẽ khác thường. Nó mang theo tiếng răng rắc của củi cháy.

Phượng đứng dậy, dùng cuốc xúc đất vãi vào lửa. Nhưng lửa sỗ sàng. Khói cuộn lên như đám mây lớn. Những nắm đất nhỏ nhoi của bà trở nên vô nghĩa. Hơi nóng táp vào mặt. Lửa rừng rực, xồng xộc tới như bầy tê giác điên.

Phượng sợ hãi nhưng không bỏ chạy. Bà cầm cây cuốc. Hai tay run bần bật. Lửa đã trùm lên cả một mảng rừng, Lửa đỏ trời, che khuất những đám mây.

Phượng sợ quá nhưng không chạy được. Bà quỵ xuống, gãy gập như cây bắp khô.

Vừa lúc Nguyễn Đức Vân chạy tới. Phượng đã bất tỉnh.

*

Nguyễn Đức Sơn lấy cái mền, cột túm hai đầu, luồng một cành cây vào giữa. Cùng với Nguyễn Đức Vân, hai cha con cáng mẹ băng rừng ra phố. Vừa chạy vừa khóc. Gai tre và cành cây cào xướt mặt. Máu lẫn với nước mắt.

Nhưng trời vẫn còn thương cha con chàng thi sĩ ngông cuồng.

Phượng đã tỉnh lại.

Ba hôm sau Trịnh Công Sơn từ Sàigòn lên, ghé bệnh viện Bảo Lộc.

Sơn Núi hỏi:

-Mày lên đây làm gì?

Sơn nhạc sĩ đáp:

-Thăm Phượng. Sao lại khổ đến vậy?

Sơn Núi bỏ đi.

Trịnh Công Sơn ở lại với các con của Phượng. Có lẽ hôm đó là một ngày của năm 1982. Tôi không biết, và các con của Phượng cũng không biết chính xác là ngày và tháng nào. Sau đó Phượng phải mổ não và Trịnh Công Sơn cùng bè bạn đã hỗ trợ hết mình cho ca phẫu thuật hiểm nghèo đó.

Nó đã cứu Phượng, đã giành giựt Phượng khỏi tay tử thần.

*

Cuộc rượu cũng tàn theo nắng xế. Nhưng những lời vung vít của chàng cuồng sĩ thì vẫn còn sôi nổi. Bóng tối đã tràn ngập rừng cây, đồi cỏ và những lối mòn. Phượng và mấy cô con gái tiễn chúng tôi về. Khi xuống tới cuối ngọn đồi, Phương Bối–cô con gái lớn của Sơn và Phượng– nói:

-Chú ạ, ba con chửi đời và tỏ vẻ bất cần đời nhưng đó chỉ là để che giấu nỗi buồn, che giấu sự cô đơn của ông. Và trong thâm tâm, ông cũng biết là ông đã sai lầm khi đưa tụi con lên đây và cấm tụi con đi học.

Đó là bi kịch của ông. Bi kịch của Sơn Núi. Bi kịch của Nguyễn Đức Sơn thi sĩ.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

6. Mặc áo cho hoa

Người nữ là sinh vật đẹp nhất trong tất cả mọi sinh vật trên mặt đất này. Người nữ đẹp hơn cả hoa vì nhan sắc của họ làm rung động lòng người sâu thẳm và lâu bền hơn những bông hoa gấp nhiều lần. Hoa đẹp làm ta sững sờ, ngây ngất, nhưng người đẹp làm ta nhói tim, đứng tim và đôi khi vỡ tim. Hoa đẹp quyến rũ ta nhưng người đẹp thì mê hoặc, bỏ bùa, xỏ mũi dẫn ta đi vòng vòng. Hoa chỉ làm ta dừng chân quyến luyến nhưng người đẹp thì có thể khiến chim sa cá lặn, khuynh quốc khuynh thành.

Hoa, tự nó đã đẹp, không cần tô điểm thêm. Nếu có ai may áo mặc cho hoa thì đó là chuyện điên rồ. Thân thể người nữ tự nó còn đẹp hơn hoa rất nhiều, thế thì tại sao chúng ta phải che giấu nó dưới những lớp trang phục?

Kẻ đầu tiên làm việc ấy là nàng E-va với chiếc Lá Nho trong vườn Ðịa Ðàng rồi sau đó là hàng loạt những nhà tạo mốt vô danh với đủ loại chất liệu như vỏ cây, da thú, kim loại…và ngày nay khắp nơi trên thế giới từ châu Âu đến Trung Quốc, sang tận châu Phi châu Mỹ cho tới… Việt Nam mọc lên những tên tuổi như Gaultier, Christian Dior, Giorgio Armani, Cát Tường, Hoàng Hoa… vẽ vời đủ kiểu.

Những xiêm y năm tầng bảy lớp của thời Phục Hưng, thời phong kiến bên Tàu đã được xếp vào quá khứ để bày ra những y phục hở ngực, hở cổ, hở đùi, hở rún ngày nay.

Vì sao không ai dám điên rồ mặc áo cho hoa mà lại có lắm kẻ ngang nhiên tạo đủ kiểu thời trang để che phủ cơ thể mỹ nhân?

Xin thưa, là vì: mặc áo cho hoa là che lấp, là vùi dập hoa, nhưng mặc áo cho người là tôn thêm vẻ đẹp cho những đường cong tuyệt mỹ. Cũng giống như viên ngọc quý, nó phải được gắn trên chiếc vương miện bằng bạc. Cũng giống như cô Lọ Lem, phải đợi mặc cho được bộ dạ phục của bà tiên mới dám đi dự khiêu vũ trong hoàng cung. Thời Trang là sự trang trí, tôn tạo, sự nâng niu ấp ủ, Thời Trang là sự biết ơn đối với nhan sắc.

Thời Trang còn là một nghệ thuật biểu cảm: bao giờ sự e ấp, lấp lửng, ẩn hiện vẫn đầy sức quyến rũ hơn sự phô bày quá minh bạch, quá thường xuyên, dẫu cho vật phô bày ấy là những đường cong tuyệt mỹ. Sự phô bày thường xuyên và lộ liễu giữa một môi trường phức tạp của nắng gió cát bụi và lô nhô ngàn mắt nhìn sẽ làm ô nhiễm, hao mòn dần vẻ đẹp thần thánh của một nhan sắc.

Và cuối cùng, thời trang là nghệ thuật của sự đánh lừa. Ðó là một sự lừa dối ngọt ngào vì nó có khả năng che lấp những nhược điểm của cơ thể. Một bộ ngực nhỏ có thể được bồi đắp thành núi đồi, một nét chì đơn sơ có thể biến đôi mắt lá răm trở thành bí ẩn, đắm đuối, những y phục có ô kẻ dọc sẽ giúp chúng ta có vẻ cao hơn thường ngày… Ðó là chút mẹo vặt của thời trang nhưng nếu khéo sử dụng đôi khi sẽ biến thành phép lạ. Phép lạ của sự đánh lừa.

Và có lẽ đó là sự lừa dối duy nhất mà người đàn bà mong đợi.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

7. Quyến rũ bằng hương thơm

Những sinh vật đẹp đẽ như bướm, chim, cá kiểng… tuy rực rỡ nhưng khi cần quyến rũ bạn tình, chúng cũng phải thay màu đổi sắc cho hợp nhãn đối tượng của mình.

Nhưng các sinh vật hoang dã xấu xí như con cầy hương thì được trời cho một túi xạ thơm tho để mồi chài người đẹp. Cái túi xạ nhỏ bé giấu trong bụng nó là niềm khao khát của loài người.

Vì thế con người phải khổ công lên rừng tìm bắt con cầy hương để lấy cái túi xạ của nó. Con người còn xuống biển, đem cả sinh mạng mình chiến đấu với cá nhà táng cũng chỉ mong lấy được chất thơm của nó gọi là Long Diên Hương. Sự hình thành của Long Diên Hương cũng rất lạ đời. Cá nhà táng là con cá voi khổng lồ, nó rất thích ăn mực nang, nó há miệng nuốt cả đàn mực hàng ngàn con vô bụng. Và có một bộ phận của con mực không thể tiêu hóa được đó là cái NANG. Nang làm cho cá đau, và cơ thể nó phải tiết ra một chất keo bao lấy những cái nang ấy để chống lại cơn đau. Chính chất keo này tiết ra mùi thơm làm ngây ngất loài…người.

Người ta dùng Xạ Hương, Long Diên Hương… để chế tạo ra nước hoa, mỹ phẩm đắt tiền và dùng nó để bôi lên người, át đi cái mùi mồ hôi hăng hắc của làn da.

Nhưng cũng có những cô gái không cần đến nước hoa, tự bản thân họ tiết ra một mùi thơm quyến rũ. Cách đây hơn 1.500 năm ở bên Tàu có một mỹ nhân tên là Tây Thi. Tương truyền trong người nàng tiết ra một mùi thơm quyến rũ. Lúc còn hàn vi nàng thường ra bờ suối giặt lụa, sau đó ngâm mình trong dòng nước. Trai tráng trong làng lén rủ nhau tắm phía dưới dòng chảy để mong hưởng một chút thơm tho từ da thịt người đẹp tiết ra.

Có người không tin truyền thuyết này, cho là thêu dệt hoang đường, nhưng tôi tin, vì khi còn là một cậu học sinh trung học, đã có lần tôi bắt gặp một mùi hương ngây ngất từ chiếc áo lót của một cô bạn học chưa từng biết mỹ phẩm là gì. Mùi hương ấy không giống bất kỳ một loại nước hoa nào, bất kỳ một loài thảo mộc nào. Nó không chỉ thơm, nó còn nũng nịu, e thẹn, ấm áp, thủ thỉ… Đó là một thứ mùi kỳ ảo, thần thoại, không gì sánh kịp, không ai diễn tả nổi. Một thứ mùi chỉ có Thượng Đế mới tạo ra được, là mùi của Trời quyến rũ Đất, của Gió quyến rũ Mây, của Biển Cả quyến rũ những Vì Sao… Nếu quả thực Tây Thi có một mùi thơm như vậy thì nước Ngô có bị diệt, thì Phù Sai có chết dưới lưỡi gươm của Câu Tiễn cũng ngậm cười nơi chín suối.

Trước khi bị đem dâng cho Phù Sai, Tây Thi là người yêu của Phạm Lãi. Khi Câu Tiễn thắng trận trở về, trong đoàn quân không có Phạm Lãi. Truyền thuyết nói ông cùng Tây Thi thay đổi tên họ đi ở ẩn trên núi cao. Có phải hương thơm của Tây Thi đã quyến rũ Phạm Lãi hơn cả vinh hoa phú quý chốn cung đình?

Quê hương Tô Châu của Tây Thi có thành Cô Tô, có Hàn Sơn Tự nổi tiếng. Ngày nay, những khu nhà cổ vẫn còn đó với kiến trúc trầm mặc, u nhã. Những mái ngói đen hoặc xanh ve chai cong vút, tường trắng ngả màu thời gian, soi bóng xuống những kênh đào nên thơ. Tôi đã đến đó để tìm một chút hương thừa của người đẹp nhưng chỉ gặp nấm mồ của Câu Tiễn chìm khuất dưới khe suối trên Đồi Hổ hoang sơ, cô tịch.

Ngày nay, nhân loại đã sáng chế ra hàng trăm loại nước hoa với vô số những tên gọi độc đáo như Lửa và Băng Giá (Fire and Ice), Ma Lực Đen (Magie Noire), Thuốc Độc (Poison), Phép Lạ (Miracle) Tôi Ngưỡng Mộ (J’adore)… nhưng không có thứ mùi thơm nào sánh bằng mùi da thịt của cô nữ sinh quê mùa mà tôi đã gặp thời trai trẻ.

Tất nhiên không phải cô trinh nữ nào cũng có được mùi thơm ngây thơ ấy. Trong các truyện Liêu Trai hoặc những truyện như Bích Câu Kỳ Ngộ, Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai… thường thường thì trước khi mỹ nhân đến hoặc sau khi mỹ nhân đi đều lưu lại một chút hương thơm, nhưng có lẽ đó chỉ là mùi thơm của hoa cỏ, của những hương liệu mà các tiên nữ đã giắt lên tóc, lên áo xiêm… cũng giống như ngày nay quý bà quý cô xịt nước hoa vậy. Tuy sức hút không mãnh liệt bằng hương thơm trời cho, nhưng nước hoa hiện đại quả thực đã đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống. Ngoài việc tạo ra một cảm giác dễ chịu khi gặp gỡ, khi gần gũi, nước hoa còn đóng vai trò một TÍN HIỆU của tình yêu, của nỗi nhớ, của kỷ niệm.

Một sáng thức dậy, tình cờ ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng trong chăn, chợt nhớ nụ hôn bàng hoàng của mười năm trước. Đi qua một phố đông lúc xế chiều, bỗng thoảng một mùi hương, tự nhiên lòng bâng khuâng nhớ cuộc hẹn năm nào nơi quán cà phê.

Cũng giống như con cầy hương để lại mùi thơm trên ngọn cỏ, dẫn lối cho bạn tình, người đàn bà để lại mùi hương trên chiếc khăn tay hay trên lá thư mong manh…

Hương thơm là TÍN HIỆU. Tín hiệu đó không chỉ đi vào khướu giác mà lan tỏa khắp tâm trí, không chỉ quanh quẩn trong hiện tại mà còn ấp ủ cả quá khứ với bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu hạnh phúc, khổ đau và nhung nhớ khôn nguôi.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

8. Phiếm luận về GIÀY

Chắc chắn khi còn ở trong vườn Ðịa Ðàng thì cả ông Ađam lẫn bà Eva đều đi chân đất. Lúc ấy thời trang của hai vị chỉ là cái lá nho, thế thì làm sao họ có ý niệm về một đôi giày.

Vậy thì theo bạn giữa ông Ađam và bà Eva ai là người nghĩ ra đôi giày trước?

Ông Ađam hiền lành chất phác, ăn rồi chỉ biết lẩn quẩn trong khu vực mười sáu mét năm mươi của vườn Ðịa Ðàng, khu vực này cỏ xanh non mịn màng tươi tốt, chắc chắn chân không bao giờ bị đạp gai. Trái lại nàng Eva tính rất tò mò ưa phiêu lưu mạo hiểm, sau khi hái trộm trái cấm nàng cũng còn “quậy“ nhiều thứ nữa. Trong những chuyến đi bụi đời ấy làm sao nàng tránh khỏi đạp gai. Thế là trong cái đầu thông minh và đầy trí tưởng tượng của nàng một đôi giày đã hiện ra.

Chưa có tài liệu nào mô tả chính xác kiểu dáng của đôi giày ấy nhưng có lẽ chúng ta phải thừa nhận rằng Ma-đam Eva là nhà tạo mốt đầu tiên của nhân loại.

Và có thể kết luận đôi giày của Eva làm bằng cỏ vì đó là chất liệu dễ tìm nhất lúc ấy.

Ðôi giày cỏ ngự trị trên hành tinh này lâu lắm, từ thời bà Eva (tức là thuở khai thiên lập địa) cho tới mãi sau này, khi con cháu của bà sinh sôi nảy nở đầy dẫy trên mặt đất.

Ngay cả lúc con người đã phát minh ra được vải vóc thì đôi giày cỏ vẫn tồn tại.

Trong văn học cổ điển Trung Quốc ta thấy xuất hiện những vị đạo sĩ, ẩn sĩ như Quỷ Cốc tiên sinh, Trang Chu, Lão Tử, Hứa Do, Sào Phủ… đều mang giày cỏ. Các hậu bối sau này ở nước ta như Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử… lúc làm quan thì áo mão xênh xang nhưng lúc về vườn thì cũng chỉ khoái đôi giày cỏ, đủ thấy giày cỏ là một top model thời ấy. Giày cỏ tạo cho người mang nó một cái vẻ tiên phong đạo cốt trông rất hoang đường.

Giày da ra đời trước giày vải vì loài người biết sử dụng da thú trước khi biết dệt vải. Những kỵ sĩ Mông Cổ nổi tiếng của Thành Cát Tư Hãn, những chiến binh của Césare hay của Charlemagne đều đã biết dùng đến giày da khi ra trận. Từ đó giày da theo chân con người đi khắp nơi. Những chàng cao bồi miền viễn tây Hoa Kỳ đã trang điểm thêm cho đôi giày da nổi tiếng của mình những chiếc cựa răng cưa bằng sắt nhọn hoắc như cựa gà đá.

Ðôi hia bảy dặm trong cổ tích thì không biết đích xác là làm bằng da hay bằng vải. Nếu quả có thật một đôi hia như thế trong cõi đời thì chắc chắn nó phải được làm bằng thép vì bước một bước mà bay xa đến bảy dặm thì chỉ có gắn tên lửa dưới đế giày!

Chúng ta còn nhớ hai câu thơ:

Dăm ba ông Táo dạo chơi Xuân.

Ðội mũ mang hia chẳng mặc quần.

Ðôi hia của Táo Quân bằng vải hay bằng da thì chưa biết nhưng ai cũng phải công nhận rằng khi đội mũ mang hia mà không thèm mặc quần thì rõ ràng Táo Quân là một siêu người mẫu sexy nhất thiên hạ, và có thể nói hình ảnh của ông đã gợi hứng cho việc sáng tạo ra chiếc mini jupe lừng danh. Tiếc thay vì suốt đời lẩn quẩn trong xó bếp lại phải bù đầu vì hai bà vợ nên chưa một lần nhà thời trang vĩ đại này được tham dự một buổi trình diễn thời trang quốc tế nào.

Còn một đôi giày đặc biệt nữa đó là giày của cô Lọ Lem. Nó làm bằng thủy tinh. Hiện nay các nhà tạo mốt lừng danh thế giới vẫn chưa giải thích nổi làm cách nào mà cô Lọ Lem có thể khiêu vũ nổi với một đôi giày cứng ngắc như thế.

*

Giày vải có lẽ xuất hiện từ khi con người tìm ra vải sợi, nó tượng trưng cho sự tao nhã của văn nhân thi sĩ, các quan văn trong triều, các cô tiểu thư yểu điệu.

Thanh Minh trong tiết tháng Ba, mấy chị em Thúy Kiều đi tảo mộ gặp một chàng thư sinh, đó là Kim Trọng. Nguyễn Du đã tả chàng như thế này:

Hài văn lần bước dặm xanh

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.

Rõ ràng là lúc ấy Kim Trọng đi hài. Hài là một loại giày vải đế thấp, mũi hơi nhọn và có thêu kim tuyến. Mô-đen này ở nước ta trong những năm 80 rất thịnh hành nhất là trong giới quần thoa. Giới nhà giàu bên châu Âu có thời cũng khoái đi hài nhưng chỉ để đi trong nhà.

Trước năm 75 tại bến xe Pétrus Ký Sài Gòn có một hãng giày nổi tiếng thế giới mang tên Bata. Giày vải của hãng Bata nhẹ, đẹp và bền. Một thời giày Bata là thời trang của giới trẻ, giới sinh viên học sinh. Các báo thời trang của Pháp như Marie Claire, Elle… từng đăng một lời quảng cáo nổi tiếng về giày Bata như thế này PAS UN PAS SANS BATA (không một bước chân nào mà không có giày Bata.) Câu quảng cáo này thú vị nhờ cách chơi chữ của nó.

Bẵng đi một thời gian khá dài, giày vải vắng bóng trên thị trường, giờ đây thời trang này lại xuất hiện khá rầm rộ với những nhãn hiệu như Biti’s, Kamachi, Belpis. Ellesse.

Giới trẻ ưa chuộng giày vải vì trông nó ”bụi”, nó ”thể thao“ mà lại trang nhã.

Trên những đôi giày mang nhãn hiệu Ellesse (của Italia) thường thấy một câu viết bằng tiếng Anh: For those who love the outdoors (dành cho những ai thích cuộc sống ngoài trời.) đủ thấy giày vải thích hợp với giới trẻ, với những cuộc picnic, những chuyến đi dã ngoại.

Người lớn tuổi thích giày vải vì nó nhẹ, mang mát và không đau chân.

Còn dân chơi tennis thì không thể thiếu nó.

Thực ra giày vải rất thích hợp với những xứ nóng như Việt Nam. Trời nóng người ta có khuynh hướng mặc đồ màu sáng, Ví dụ như một chiếc quần jeans màu kem đi với một chiếc áo thun trắng và một đôi giày vải màu sáng sẽ tạo được một sự hài hòa trang nhã.

Tuy nhiên giày vải chỉ nên đi với quần jeans hoặc kaki.

Nếu mặc quần có pli may bằng sợi nylon tổng hợp hay “đóng“ một bộ côm-lê trang trọng mà bạn “chơi“ một đôi giày vải thì coi không được. Trong trường hợp này một đôi giày da đúng mốt sẽ làm cho bạn “sang“ hơn, chững chạc hơn nhiều.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

9. Màu sắc của thời trang

Mùa Ðông năm 1997 khi lang thang qua các đường phố tại những thủ đô nổi tiếng châu Âu như Bruxelles,Paris, Berlin… tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy gần như mọi người đều mặc đồ đen. Thỉnh thoảng người ta cũng có mặc màu sáng nhưng thường là những màu đơn giản như trắng, xám nhạt… ít ai ăn mặc lòe loẹt.

Trái lại, nếu bạn đến một bản làng người dân tộc ở những miền thượng du phía Bắc hoặc Tây Nguyên, bạn sẽ bắt gặp những trang phục đầy màu sắc sặc sỡ xanh, đỏ, tím, vàng… với những hoa văn rằn ri vui mắt.

Xuôi xuống đồng bằng, len lỏi trong các miền nông thôn, gặp lúc có hội hè đình đám chúng ta cũng sẽ bắt gặp những màu sắc tương tự trên những chiếc áo dài màu lá chuối non rực rỡ, những chiếc sơ mi đỏ chói chang, những đôi dép nhựa màu vàng, những “đề can“ xanh đỏ tím vàng dán trên xe đạp, xe gắn máy, những khung cửa sổ sơn xanh dương với các bông sắt đỏ trắng xen kẽ nhau. Bàn thờ, tủ áo, tường vôi thì dán đấy hình ảnh diễn viên điện ảnh lẫn lộn với tranh Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi.

Ở nông thôn, màu sắc của trang phục xem ra không phản ảnh tâm hồn con người mà phản ảnh khát vọng, ước mơ của họ. Cô thôn nữ quanh năm lam lũ với bùn đen, đất xỉn… thường khát khao những màu sắc rực rỡ tươi sáng. Cậu thợ hồ suốt ngày tiếp xúc với gạch cát xi măng thì mơ ước một cái quần jeans xanh da trời kèm một chiếc áo sơ mi vàng hoa cúc.

Ở nông thôn, ngay cả những con vật vây quanh con người đều có những màu tối như con heo, con bò, con trâu… phải chăng vì vậy mà con người ở đó cần những trang phục màu tươi sáng để hưởng thụ một chút huy hoàng?

Những người trẻ tuổi của đồng ruộng, rẫy nương suốt ngày vật lộn với mưa nắng, da của họ sậm đen lại, tóc khô cháy. Chẳng phải vì thế mà trong những giờ giải trí họ cần diện những trang phục rực rỡ để cố níu lại một chút thanh xuân sao?

Người thành phố có đời sống sung túc hơn, họ có thừa sự rực rỡ của ánh đèn, của hoa, của tiền bạc, danh vọng và tình yêu nên họ muốn chơi nổi bằng những thời trang có màu… tối.

Một khía cạnh khác, người thành phố ngồi trong xe hơi, làm việc, ăn nhậu trong phòng lạnh nên da dẻ trắng trẻo hồng hào. Họ cần màu tối của áo quần để tôn cái vẻ nõn nà của da thịt, cái tươi mát của phấn son, cái óng ả của mái tóc, cái long lanh của đôi mắt.

Thời xưa, màu sắc trong trang phục lại phản ảnh một tình trạng trái ngược với bây giờ. Thời điểm các ông con trời, các quan thái sư, thượng thư, nguyên soái… còn nắm quyền thì thời trang là đặc quyền của họ, đố có thằng dân đen nào dám học đòi những thời trang quan quyền ấy. Thuở ấy màu vàng là màu của hoàng tộc. Long bào của vua có màu vàng. Ý niệm vàng và rồng đã cặp bồ với nhau như hình với bóng. Giường ngủ của vua gọi là giường rồng, thuyền của vua đi gọi là thuyền rồng, mặt của vua gọi là mặt rồng.

Màu đỏ là màu trang phục của quan võ. Các ông tướng cỡ như Triệu Tử Long, Trần Bình Trọng, Quan Vân Trường hẳn phải mặc màu đỏ, gọi là nhung phục. Quan văn thường mặc màu xanh, chỉ có quan tòa cỡ Bao Công thì “chơi“ màu đen như kiểu trọng tài bóng đá.

Nhưng các vị con trời và các vị quan quyền chưa chịu dừng lại với các màu vàng đỏ xanh đen, họ còn thêu rồng, vẽ phượng, vẽ kỳ lân, hổ dữ trên ngực áo.

Thời ấy chưa có điện, ban đêm trong cung thắp đèn cầy hoặc đèn dầu leo lét vì vậy mà trang phục của quý vị ấy còn đính kim tuyến trân châu, cẩm thạch lấp lánh. Như thế cũng chưa đủ sang, chưa đủ lộng lẫy, họ còn đeo đai, đeo dải như dân hippy chính hiệu bây giờ. Ðó là chưa kể lục lạc, dây ngọc leng keng, đi tới đâu tiếng rổn rảng phát ra tới đó. Như thế mới là sang là quý. Họ không biết rằng người đời sau chỉ đeo lục lạc cho bò, cho ngựa và cho chó để phòng khi chúng đi lạc, dễ tìm.

Còn như anh thư sinh mười năm đèn sách mà chỉ thi đậu đến tú tài thì cũng chỉ được mặc chiếc áo dài màu trắng, các quan chức trong làng xã thì suốt đời cái áo the thâm, dân đen thì “khố rách áo ôm“ khá hơn một chút thì bộ bà ba vải thô màu đen hay nâu, hay cháo lòng.

Nguyễn Công Trứ, khi còn là một học trò nghèo cũng đã mô tả thời trang của mình trong bài ”Hàn nho phong vị phú “ như sau:

Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu. Khăn lau giặt đỏ lòm, trải làm chiếu, bận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú.

Vậy tại sao giữa xưa và nay quan niệm về màu sắc trong trang phục lại quá khác nhau như vậy? Phải chăng màu sắc trong trang phục ngày xưa biểu hiện quyền lực còn màu sắc trang phục ngày nay lại biểu hiện ước mơ thầm kín của con người?

Thế còn trường hợp Hippy thì sao?

Y phục sặc sỡ, quái dị với tua dải, hoa văn, dây nhợ lằng nhằng… biểu lộ đều gì? Quyền lực hay ước vọng thầm kín?

Không, nó chỉ biểu lộ sự phản kháng xã hội. Thời trang đó nhằm phá vỡ những mẫu mực của xã hội, những thói quen, những quan niệm cũ mòn về cái đẹp. Ðó là sự phản kháng trong ý thức được biểu lộ qua trang phục. Một sự bế tắc lý tưởng biểu lộ bằng sự bế tắc của thời trang. Ðó là thứ thời trang tuỳ tiện, thứ thời-trang-không-thời-trang. Ðó là sự thách thức của các mẫu mã và kiểu dáng.

Như thế bản chất của thời trang là gì?

Ðơn giản: đó là làm đẹp.

Và mỗi người có cách làm đẹp riêng, tuỳ theo vóc dáng, tâm hồn và môi trường.

Vì thế tôi không tin có một thời trang nào chung cho mọi người. Tôi chỉ tin vào thời trang của mỗi con người.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

10. Những biến tấu của chiếc áo dài

Áo dài tự nó đã là một biến tấu. Thời Pháp thuộc, một nhà tạo mốt tên là Cát Tường đã lấy cảm hứng từ chiếc áo dài truyền thống của các cụ đồ nho ngày xưa để biến tấu ra chiếc áo dài tân thời. Vì thế chiếc áo dài được mang tên ông. Nhưng vì “Tường” tiếng Pháp gọi là “Le Mur” nên chiếc áo dài được giới chuộng thời trang thời ấy gọi là áo Le Mur.

Nhìn lại những bức ảnh cũ của các người mẫu trong tranh lụa của họa sĩ Tú Duyên ta thấy áo Le Mur không khác với áo dài ngày nay là mấy. Cổ áo thấp, vạt áo ngắn, tà ôm ngay dưới đầu gối, chỉ khác áo dài raglan cái ”tay ráp”. Tuy vậy áo dài của các cô gái Hà Nội và Sài Gòn thời ấy cũng là một kiệt tác nhờ vẻ dáng thanh lịch với hai tà áo tha thướt, vòng eo ôm sát cái lưng ong yểu điệu của giai nhân. Các cô mặc áo dài thường đeo kiềng vàng.

Về sau, với các nghệ sĩ như Phùng Há, Năm Phỉ, Thái Hằng, Thái Thanh, Khánh Ngọc… cổ áo được nâng cao lên sát quai hàm. Ðó là một mốt mới, biến tấu của chiếc Le Mur.

Có người nói phụ nữ thời ấy chuộng cái cổ cao vì họ chưa có nhu cầu nhìn ngang liếc dọc. Ra đường, chị em thường nhìn thẳng ra dáng con nhà lành, cành vàng lá ngọc. Cũng có thể thời ấy mỹ phẩm chưa nhiều, da dẻ của các chị chưa thật mịn màng trắng trẻo nên chiếc áo cổ cao đóng vai trò che chắn bớt những nhược điểm đó chăng?

Về sau này đời sống khá hơn nên trong văn thơ xuất hiện những cụm từ như “chiếc cổ trắng ngần“, “gáy nàng thơm như sữa”… do đó cổ áo dài thấp xuống còn hai phân để phô bày cái phần da thịt thơm tho mát mẻ đó.

Cũng có thể vì đời sống khá hơn, phố xá đẹp hơn, nam thanh nữ tú nhiều hơn nên xe gắn máy kè kè tán tỉnh dồn dập, các nàng có nhu cầu nhìn sang phải ngó sang trái và… đàng sau quay! Vì thế mà cái cổ cao trở nên bất tiện.

Cổ áo thấp quả thật có ưu điểm là làm tôn vẻ đẹp của cổ, đồng thời giúp cho cái cổ ngắn tạo được cảm giác “dài“ ra thêm chút đỉnh.

Nhưng phải đợi đến thời ma-đam Ngô Ðình Nhu thì chiếc áo dài xinh đẹp của chúng ta mới bị đem ra pháp trường xử trảm. Và có lẽ vì đao phủ hơi mạnh tay nên vết chém khoét sâu xuống ngực để ló hai cái xương đòn gánh. Tất nhiên không phải ai cũng lòi xương đòn gánh như bà cố vấn. Có người cũng nhờ áo dài mô-đen hở ngực này mà khoe được tí của. Nhưng kiểu áo dài nửa Tây nửa ta ấy cũng không mấy ai ưa chuộng nên cổ áo lại dần dần nhú lên, nhân tiện rụng mất hai tay, thay vào đó là hai tay ráp mà giới sành điệu gọi là ”áo dài raglan”. Mốt ấy tồn tại cho đến bây giờ. Nó tồn tại vì nó có ưu điểm là làm cho ngực áo thẳng, nách và hai tay không nhăn nheo như kiểu Le Mur, tạo được cảm giác tròn lẳn cho vùng ngực và thon thả cho hai cánh tay.

Nhưng nãy giờ chúng ta mới sơ lược lịch sử của cái cổ mà chưa nói đến nỗi thăng trầm của hai tà áo và vòng eo.

Cổ áo và tà áo quả thật là có mối quan hệ với nhau như thủy triều quan hệ với mặt trăng. Thời Le Mur cổ hạ thấp thì hai tà áo cũng chỉ quá gối. Sang thời Thái Thanh, Khánh Ngọc cổ mọc cao lên thì hai tà áo cũng dài ra thêm cho đến chấm gót. Tà áo dài quá làm cho dáng trở nên lùng bùng vướng víu và nếu ai có cặp đùi đẹp thì chẳng có cơ hội để mà khoe khoang tí chút. Vạt áo dài chấm gót làm cho dáng người trở nên lùn. Chính vì thế mà về sau khi cổ áo hạ xuống thì hai vạt áo cũng ngắn lại chỉ lửng lơ dưới đầu gối độ vài tấc.

Tà áo ngắn tạo ấn tượng tươi trẻ, linh hoạt. Khi bóng hồng lướt đi, làn gió nhẹ thoảng qua, nâng tà áo lên, tạo ra dáng vẻ lãng mạn như cánh chim bay.

Tuy nhiên cũng có kẻ tưởng lầm áo dài là cái mini-jupe nên cắt hai tà áo lên thật ngắn, trên đầu gối. Chiếc áo của chúng ta dở khóc dở cười bởi vì nó vừa giống áo bà ba mà lại không phải áo bà ba. Còn nếu gọi nó là áo dài thì mắc cỡ vì thật ra nó quá… ngắn.

Âu đó cũng là cố gắng của các nhà tạo mốt.

Cái vòng eo cũng thế. Ðể cho nó thật ôm sát vào người, các vị thợ may cho ”chít banh“ bốn hướng đông tây nam bắc.

Áo thì có eo thật nhưng góc cạnh quá. Cái lưng ong thon thả của giai nhân bỗng biến thành cái hộp gỗ cứng đờ. Nhiều người thấy nhược điểm ấy liền bỏ kỹ thuật “chít banh“ đi và lưỡi kéo của nhà tạo mốt lượn một đường lả lướt cho lưng áo được tự nhiên, tạo vẻ mềm mại uyển chuyển của đường nét từ lưng xuống vùng mông phía sau, và từ bụng lượn xuống vùng đùi gợi cảm phía trước. Sự thả lỏng cố ý và đầy nghệ thuật ấy đã tôn vinh và thánh hóa ”những đường cong tuyệt mỹ” mà thượng đế đã phú cho người nữ.

Có nhà tạo mốt còn tiến xa hơn với mốt áo dài không eo, nghĩa là suôn đuộc từ trên xuống dưới. Bạn đừng cười và cho họ là điên rồ nhé. Môđen ấy trước kia đã một thời được giới nữ sinh trung học hâm mộ. Người ta gọi đó là ”mốt nữ sinh”. Không cầu kỳ, không làm điệu.

Có lẽ một ngày nào đó, nhà tạo mốt đi lang thang trên con đường có nhiều tu viện chợt bắt gặp một nữ tu với chiếc áo dòng rộng thùng thình đi lẻ loi giữa hàng cây cao. Nhà tạo mốt chợt nhìn thấy vẻ thánh thiện toát ra từ kiểu áo rộng thùng thình ấy và đã biến tấu thành mốt nữ sinh một thời nổi tiếng.

Chẳng biết ngày nay có em nữ sinh nào còn giữ được cái mốt ấy hay không?

Ðã lâu rồi tôi giã từ bục giảng, tôi không có dịp gần gũi các em, nhưng tôi vẫn nhớ.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

11. Ðàn ông làm điệu

Tất nhiên là đàn ông cũng làm điệu nhưng họ không lộ liễu, không khoa trương như đàn bà. Ðàn ông họ làm điệu ”khôn“ và ”mánh“ hơn đàn bà nhiều. Những người đàn ông thuộc loại ”mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao“ đi giày, thắt cà vạt, xức nước hoa… là hình ảnh thường ngày, tuy có chút đỏm dáng đấy nhưng không có gì đáng nói. Cái đáng nói trong cách làm điệu của đàn ông nằm ở chỗ khác:

QUẦN ÁO

Nếu bạn vào một quán cà phê, thấy có một người đàn ông mặt mày trầm tư, tóc biếng chải, áo nhàu nát, quần sờn rách, mũ bẩn thỉu, thì đích thực đó là các bậc văn nhân nghệ sĩ. Bạn đừng vội kết luận rằng họ là những người không thèm quan tâm đến nhan sắc của mình. Kiểu ăn mặc ấy là mô-đen của họ đấy. Họ tự hào về sự nhếch nhác ấy, cũng giống như các bà tự hào về bộ đầm lộng lẫy giá bạc triệu của mình.

THUỐC LÁ.

Trước đây, đàn ông Sài Gòn có mô-đen hút thuốc lá đen. Thường là Bastos xanh. Ai hút thuốc thơm, thuốc có cán bị coi là công tử bột, là gà mái. Ðặc biệt Ba Số Năm chỉ dành cho giới áp phe. Hiện nay, mô-đen ấy bị đảo ngược. Dân lao động, công chức nghèo mới hút thuốc lá đen, còn giới trung lưu, giới trí thức trở lên thì hút có cán, phổ biến là Jet, Con Mèo, Sài Gòn, sang trọng hơn thì có Ba Số, Dunhill đỏ… Rải rác một số người hút Lucky Strike, Camel. Bastos xanh gần như vắng bóng trên thị trường.

Thuốc lá là một món trang sức quan trọng của đàn ông. Nhiều người rất tự hào khi nói: ”Mỗi ngày mình đốt hai bao Ba Số, sơ sơ cũng ba chục ngàn”. Các nghệ sĩ lại tự hào về những ngón tay nám khói của mình. Ngồi chung với bạn bè, họ thường tìm cách khoe các ngón tay ấy. Có người còn tự hào về hàm răng nám khói. Họ coi những thứ đó biểu lộ ”nam tính”. Có kẻ khoái cho mọi người biết mình là cái ống khói tàu. Trước mặt bạn bè ít khi họ để điếu thuốc tắt trên tay, dù chỉ một giây. Muốn làm được điều đó, họ áp dụng trò sau đây: khi điếu thuốc trên tay cháy gần hết, họ rút ngay một điếu mới, lấy bớt thuốc ở đầu để tạo một khoảng trống, sau đó họ ngắt phần đầu lọc của điếu thuốc đang hút và nhét vào lỗ trống của điếu thuốc mới. Thế là hai điếu thuốc đã được nối vào nhau. Cứ như thế, đóm lửa không bao giờ tắt. Một số đàn ông khác khoái hút điếu cày để tỏ ra mình chơi nặng đô, số khác thì hút xì gà, nhất là mấy vị to con. Hút xì gà trông bề thế, chững chạc và “sang“ hơn.

CÀ PHÊ

Nói đến thuốc lá không thể không nhắc đến cà phê. Ðó là cặp bài trùng, cũng giống như son và phấn của đàn bà. Tất nhiên uống cà phê là một nghệ thuật, từ cách hái, cách rang, cách pha chế cho tới cách uống. Có người uống cà phê với một tí bơ, người khác thích đổ vào tách cà phê nóng một chung rượu Rhum, hương vị sẽ nồng nàn hơn.

Tuy nhiên bài này chỉ nói về cách làm dáng của đàn ông khi uống cà phê.

Những người đàn ông làm dáng thường chỉ uống cà phê đen, uống thật “đặc“ và không có đường. Cà phê uống càng đắng càng thú vị, đó là vị đắng của đời, vị đắng tình yêu, càng đắng càng suy tư dữ dội và càng đắng thì chất đàn ông càng nhiều. Dĩ nhiên có người thích vị đắng ấy một cách thực sự, nhưng thường thì họ làm dáng.

Có anh bạn, khi ngồi uống cà phê với bạn bè bao giờ cũng gọi một ly ”đen”. Thế rồi chủ quán đem cà phê ra cho mọi người. Ai cũng khuấy cà phê uống tự nhiên chỉ có anh bạn là dùng muỗng múc từ đáy tách lên những hạt đường và đổ xuống đất, vừa làm động tác ấy vừa cằn nhằn cho đến khi loại bỏ hết đường ra khỏi tách cà phê mới thôi. Một lần anh đến nhà tôi chơi. Biết ý, tôi pha cho anh một tách cà phê đen không đường, còn tôi thì phải có hũ đường bên cạnh. Ðang chuyện trò với bạn, chợt bà xã tôi gọi vô buồng để xem cái ổ điện bị trục trặc. Tình cờ, qua lỗ thông gió nhìn ra ngoài, tôi thấy anh bạn đang mở hũ đường, múc đường đổ vào tách cà phê mình lia lịa. Từ ấy tôi biết chuyện anh uống cà phê không đường chỉ là một cách làm dáng.

RƯỢU

Nam vô tửu như kỳ vô phong. Ðàn ông không có rượu giống như cờ không gặp gió. Ý nói sẽ rũ rượi, thiếu hứng khởi, linh hoạt. Thực ra rượu là một phát minh quan trọng của nhân loại, nó có cái hay riêng của nó nên nó mới tồn tại hàng ngàn năm nay. Ngày xưa ở bên Tàu (đời Tấn) có ông Lưu Linh là một hiền nhân về cái khoản uống rượu. Khi đi nhậu ngài thường dắt theo một đệ tử cầm sẵn cái cuốc phòng khi ngài có đứt bóng thì đào lỗ chôn luôn. Biết đâu cái màn “xách cuốc đi theo“ cũng là một kiểu làm dáng của cổ nhân!

Sự tích về con sâu rượu cũng khá độc đáo. Số là có một anh nhà giàu kia mê uống rượu bán cả ruộng đất, nhà cửa. Gia đình sợ quá bèn rước pháp sư về nhà chữa trị. Pháp sư sai trói tay chân nạn nhân, nọc ra giữa sân, phơi nắng, cạnh đó để một vò rượu thật thơm ngon. Bệnh nhân khát quá, thèm rượu quá mà không biết cách nào uống, miệng cứ há hốc, hướng về phía vò rượu. Bỗng nhiên từ trong cổ họng anh ta vọt ra một vật gì đỏ lòm, rơi tõm vào vò rượu. Bệnh nhân lập tức thấy hết ghiền. Gia nhân xúm lại nhìn vào vò rượu, thấy cái vật đỏ lòm ấy là một sinh vật to bằng ngón tay cái đang bơi lội tung tăng. Pháp sư nói: Ðó là con sâu rượu. Chỉ cần thả con sâu này vào một vò nước, lập tức nó biến thành vò rượu ngon.

Gia nhân làm theo, quả y như lời.

Sự tích con sâu rượu, dĩ nhiên chỉ là huyền thoại. Ngày nay “con sâu rượu“ được dùng để chỉ những người đàn ông nát rượu, uống rượu như hũ chìm. Những vị này thuộc loại dân nghiền, không phải làm dáng. Người làm dáng là người hay vỗ ngực xưng ta đây tửu lượng cao. Khi uống rượu một mình, họ có thể phá mồi lia lịa, nhưng khi gặp bạn bè họ mới nhón lấy một cái chân gà, gặm chút xíu rồi bỏ xuống.

-Tớ kỳ lắm. Uống rượu, tớ không muốn ăn.

Nhưng sau đó, khi rã đám, trên đường về nhà, thế nào cũng ghé làm tô phở.

Không biết ở bên Tây bên Mỹ người ta uống rượu ra sao, chứ như mấy ông da trắng sang đây, xem cách họ uống rượu, thấy họ chững chạc lắm. Vào quán họ uống nhiều lắm là hai lon bia hoặc vài ly Whisky nhỏ. Uống vừa đủ để ăn ngon hay hưng phấn một chút. Chưa thấy ai kêu nguyên thùng ”dô, dô, chăm phần chăm“ như dân nhậu xứ mình.

Nhiều người đàn ông coi việc uống bia nhiều là niềm tự hào.

-Tớ và một thằng bạn nữa ngồi từ mười giờ trưa đến mười hai giờ đêm, chơi luôn bốn thùng Heineken.

Người khác lại khoe:

-Uống bia tớ thích uống ly cối. Một lon rót vừa một ly. Nốc một hơi một.

Họ ép nhau uống bia, ai cũng thấy là cực hình nhưng vẫn uống vì sợ bạn chê là tửu lượng kém.

Ðó là những cách làm dáng của đàn ông.

Nếu kể về tiền chi phí cho cái khoản làm dáng ấy thì có lẽ đàn ông ăn đứt đàn bà.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

12. Biện hộ cho vòng số Bốn

Người đàn ông thường tự hào về bộ râu, còn người đàn bà thì nổi tiếng nhờ ba cái vòng. Quí vị giám khảo các cuộc thi hoa hậu đều căn cứ vào ba cái vòng ấy mà chấm điểm. Ðẹp hay xấu đều phụ thuộc vào chúng. Khỏi cần diễn tả, một đứa con nít cũng thuộc lòng tên gọi của từng vòng một. Nhưng nếu ai hỏi ”vòng thứ tư“ trên cơ thể người đàn bà là cái gì thì sẽ có nhiều người ngạc nhiên lắm.

Tôi chưa vội giới thiệu cái vòng thứ tư đó đâu vì đó là một ”nhân vật“ quan trọng, mà đã là VIP thì phải đợi thiên hạ tới trước, mình mới tà tà tới sau.

Vậy trước hết xin bàn về vòng số Một: đó là bộ ngực được đặt tên theo lối ”kinh tế thị trường”.

Rất nhiều người lầm lẫn giữa ”ngực“ và ”vú”. Ngực là phần thân thể ở giữa cổ và bụng, còn vú là bầu sữa dành cho việc bảo tồn nòi giống. Cụ thể hơn, ngực là cái nền móng, cái khuôn viên, còn vú là tòa nhà…Vậy ”ngực“ và ”vú“ cái nào quan trọng hơn? Nếu bạn có hai vú căng tròn nhưng ngực thì lép xẹp, xương đòn gánh nhô cao, tạo nên hai cái hõm dưới cổ thì cặp vú sẽ lạc lõng vô duyên. Ngược lại nếu bạn có một tảng ngực đầy đặn, vồng cao lên, thì cho dù cặp vú có nhỏ một tí vẫn thấy gợi cảm. Tất nhiên nếu bạn vừa có một tảng ngực đầy đặn vừa có một cặp vú căng tròn thì không gì quí bằng.

Dáng của vú cũng rất quan trọng. Xưa nay các bậc mày râu lịch lãm đều chuộng cái dáng ”sừng trâu“ hơn là ”trái bưởi“ hoặc ”trái dừa”. Còn ”trái mướp“ thì có lẽ chỉ nên đem… nấu canh là hấp dẫn hơn cả.

Khi mặc áo dài hoặc áo bà ba bạn mới thấy cái quan trọng của ”ngực”. Nếu ngực bạn lép xẹp thì dù có độn bằng loại ”xú cheng“ gồ ghề cỡ nào, ngực áo cũng bị nhăn. Nếu bạn lại có thêm hai vai xuôi nữa thì dù thợ may giỏi cỡ nào cũng không thể có được một chiếc áo dài đẹp cho bạn. Còn nếu bạn mặc sơ mi hở cổ hoặc muốn mở một hột nút ”cho thoáng“ thì một tảng ngực đầy, trắng mịn sẽ gợi cảm hơn nhiều.

Nãy giờ chỉ mới bàn sơ về cái vòng số Một.

Vòng số Hai cũng là một khu vực quan trọng, một ”điểm nóng chiến lược“ trong nhan sắc phụ nữ. Rất nhiều chị em đau khổ vì một thân hình suôn đuột hay một cái bụng hơi quá khổ. Cái ý niệm về thắt đáy lưng ong xem ra đến nay vẫn còn "à la mode" đủ thấy cái vòng số Hai được ”nhân loại“ đánh giá cao chừng nào!

Nhưng nếu vòng số Một chỉ quan trọng ở cái mặt tiền thì vòng số Hai cả phía trước lẫn phía sau đều đáng nói. Chiếc áo dài sẽ làm nổi bật những ưu điểm hoặc nhược điểm của vòng số Hai này từ hai phía.

Ngắm nhìn từ phía trước thì vùng bụng thường đem lại cảm giác bình yên, phẳng lặng và gợi cảm. Có một nhân vật nam trong tiểu thuyết của Christiane Rochefort khi được người yêu hỏi: “Anh thích cái gì nhất trên thân thể em?“ thì anh ta đáp không do dự: “cái rốn”. Gẫm lại đó không phải là lời nói đùa. Cái rốn có vẻ đẹp độc đáo mà không bộ phận nào có được. Giữa bình nguyên phẳng lặng của vùng bụng hoang vu kia bỗng xuất hiện một chỗ trũng. Nó như cái lúm đồng tiền trên má, nó làm cho vùng bụng duyên dáng hơn, đáng yêu và gợi cảm hơn, thánh thiện và hồn nhiên hơn.

Bây giờ nếu ngắm từ phía sau thì đường cong của vòng số Hai lại rất lãng mạn. Cái eo của quý bà quý cô là nơi người đàn ông đặt nhẹ bàn tay của mình lúc khiêu vũ hay dạo chơi trên bờ biển hoàng hôn. Khi người chồng vuốt ve người vợ thì ”eo“ là nơi bàn tay dừng lại để cảm xúc có dịp ngẩn ngơ trước biên giới của vòng số Ba huyền thoại.

Nó huyền thoại có lẽ vì là bộ phận kín đáo nhất mà cũng lộ liễu nhất trên cơ thể nữ giới. Nó thường lẩn khuất sau tà áo dài lất phất bay, khi ẩn, khi hiện, nó kết hợp với tà áo dài hoặc với những đường découpes của quần jeans hay những nếp gấp của chiếc váy tạo nên những ”cặp phạm trù“ gợi cảm và huyền ảo.

Nếu như vòng số Hai bộc lộ hết vẻ đẹp của nó trong cái nhìn chính diện thì vòng số Ba rất quan trọng ở trắc diện (profil). Một cặp mông đẹp không bao giờ quá đồ sộ mà cũng không quá ”lép”. Sự đồ sộ của con số Ba dễ làm dáng đi của bạn trở nên ”lạch bạch“ nặng nề còn nếu nó lép quá thì sẽ tạo sự mất cân đối trầm trọng, dễ khiến người ta liên tưởng tới tình trạng suy dinh dưỡng.

Chín mươi xăng ti mét, đó là số đo lý tưởng của bên Tây, còn bên ta, con số đó hơi quá khổ một chút không? Cái đó còn tùy vào chiều cao của bạn. Và còn tùy thuộc vào một bộ phận khác cực kỳ quan trọng, đó là… vòng số Bốn.

Vòng số Bốn chính là vòng đùi của bạn.

Cặp đùi là một ”nhân vật quan trọng”, một ”thiên tài” mà bấy lâu nay bị đời bỏ quên, làm như thể nó không đóng vai trò gì trong nhan sắc của nữ giới.

Hãy tưởng tượng một hoa hậu có khuôn mặt đẹp và ba vòng đều đạt những con số lý tưởng nhưng lại có một cặp đùi đồ sộ hoặc khẳng khiu như hai ống sậy thì cái khuôn mặt đẹp kia, cái vòng 1, 2, 3 lý tưởng nọ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Một cặp đùi thô thường gây cho đàn ông cảm giác ”sợ hãi”. Một cặp đùi quá gầy gợi lên vẻ thảm hại.

Cho nên, dù cặp đùi xưa nay không được các vị giám khảo ”kính nể” bằng ngực, eo và mông nhưng thực tế nó gần như đóng vai trò quyết định trong vẻ đẹp của phụ nữ. Nó không nổi tiếng và có vẻ ”lép vế” nhất, nhưng nó có quyền phủ quyết. Bạn có ba vòng lý tưởng hả? Mặc kệ bạn, nếu đùi bạn không thon thả, thì coi như bỏ.

Không phải vẻ đẹp của cặp đùi chỉ có ưu thế ở hồ bơi hay bãi biển mà chính trong tư thế nằm, cặp đùi mới bộc lộ đầy đủ tính ”ưu việt” của nó. Khi bạn nằm, ngực và vú bạn sẽ bị ép xuống và biến dạng đi, eo cũng bị biến dạng và mông thì gần như bị che khuất. Nhưng cặp đùi thì không hề thay đổi. Nếu đùi bạn có nhược điểm thì không cách gì che giấu được, ngược lại nếu nó thon thả, mịn màng thì không có gì gợi cảm và quyến rũ bằng.

Vì thế, thưa các bạn, chúng ta hãy đòi hỏi cặp đùi của nữ giới phải được mang tên: VÒNG SỐ BỐN.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

13 .Bạn có dám tỏ tình như thế không?

Chuyện xưa nhất trên trái đất có lẽ là chuyện tình. Và các chàng trai, các cô gái từ hàng chục thế kỷ qua đã nghĩ ra được nhiều cách tỏ tình. Từ cách xách cây đàn ghi-ta, nửa đêm đứng dưới khung cửa sổ nhà người đẹp, đến việc cho máy bay rải xuống sân nhà nàng một cơn mưa hoa hồng, hoặc như ông hoàng Ali Khan mua nước hoa đổ đầy bể bơi cho nàng Rita Hayworth tắm…

Mô đen ”cây đàn ghi-ta dưới cửa sổ“ là mốt nhà nghèo, còn cái trò ”mưa hoa hồng“ hay ”hồ bơi nước hoa“ là mốt nhà giàu.

Anh nhà nghèo kia yêu mà chỉ biết xách cây đàn đứng dưới cửa sổ, xem ra cũng chẳng có gì là tha thiết. Hành động ấy thiếu sáng tạo và biểu lộ sự lười biếng. Hai hành động nhà giàu tiếp theo thì nặng về phô trương tiền của nhưng cũng là lười biếng. Tiền bạc đã làm thay cho họ việc tỏ tình. Ðó là lối tỏ tình công nghiệp, lối tỏ tình của ông chủ ngồi trong văn phòng nhấn nút điều khiển từ xa. Nó còn tệ hại hơn việc nhờ bưu điện gởi hoa đến người đẹp bởi vì rất có thể vì sự nhút nhát mà người ta không dám trực tiếp đem hoa đến.

Những cách tỏ tình của các anh nhà giàu xem ra có vẻ giật gân, có vẻ độc đáo nhưng thật ra là nhạt. Họ có thể bỏ ra 30 triệu đôla để mua một bức tranh hay 100 ngàn đôla chỉ để mua chiếc giày rách của một nữ minh tinh nổi tiếng nào đó, thì việc rải một trận mưa hoa hồng trước sân nhà Brigitte Bardot có gì là đáng nói.

Trong tiểu thuyết của Kim Dung có những nhân vật dễ thương hết sức. Cách tỏ tình của họ mây núi cũng phải xúc động, cây cỏ, sỏi đá cũng bùi ngùi rơi nước mắt. Ðó mới là những người tình thực sự. Tôi đọc Kim Dung đã hai mươi năm nay, những địa danh, những triều đại, tôi không nhớ nổi nhưng tôi biết có chàng Ðoàn Dự khi đi lạc vào một hang núi, nhìn thấy pho tượng một mỹ nhân đứng trên vách đá đẹp đến nỗi khiến chàng bủn rủn tay chân. Cạnh tượng của mỹ nhân có khắc dòng chữ “Kẻ nào lạy ta 1.000 lạy thì ta sẽ truyền bí kíp võ công“. Ðoàn Dự cung kính nói:

- Tại hạ vốn không thích võ công, nhưng vì ngưỡng mộ nhan sắc của cô nương, tại hạ sẵn sàng lạy 1.000 lạy.

Ðoạn chàng quỳ xuống trước mặt pho tượng, sụp lạy, đầu cúi sát một cách cung kính, trán chàng chạm liên tục trên nền đá, máu chảy ròng ròng.

Người thứ hai là Du Thản Chi. Anh ta yêu A Tử say đắm nhưng nàng lại rất ghét anh ta. Trong một tình huống nào đó, tôi không nhớ, A Tử bắt được Du Thản Chi và hành hạ anh ta, tra tấn bằng cách cột dây vào người rồi quay anh ta bảy vòng vòng như máy bay trong sở thú. Sau đó A Tử sai rèn một mặt nạ sắt, nung đỏ lên rồi chụp vào mặt Du Thản Chi, xong dội nước lên đầu cho cái niềng co lại, siết chặt vô hộp sọ (kiểu như Tam Tạng niềng đầu Tôn Ngộ Không). Du Thản Chi ngã xuống đất ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, mở mắt ra, chàng nhìn thấy những ngón chân trắng hồng của người đẹp đang ngồi trên ghế, chàng bò tới, trườn tới gần và hôn những ngón chân xinh đẹp ấy bằng đôi môi sưng vù của mình.

Ðoàn Dự và Du Thản Chi tuy chỉ là nhân vật tưởng tượng, nhưng nó tượng trưng cho một cách tỏ tình si dại hết mình. Kiểu tỏ tình ấy đàn ông ngày nay không theo kịp.

*

Nhưng có một bài ca đã làm thay đổi ý nghĩ đó trong tôi. Ðó là ca khúc “Triệu Ðóa Hoa Hồng”. Bài hát kể chuyện một chàng họa sĩ nghèo yêu một cô ca sĩ. Nhưng chàng đã tỏ tình như thế nào?

Nếu là bạn, bạn sẽ làm gì với túi tiền lép kẹp của mình? Một bức tranh? Một bài thơ? Một đôi giày môđen mới nhất? Hay một bó hoa?

Chàng họa sĩ đã chọn hoa hồng, nhưng không phải một bó mà là MỘT TRIỆU ÐÓA HỒNG. Tính sơ sơ, nếu 500 đồng VN một đóa thì một triệu đóa cũng đã tốn hết nửa tỷ bạc! Tỏ tình kiểu đó chỉ có dân nhà giàu cỡ ông hoàng Ali Khan (như đã nói ở phần trên) mới “chơi“ nổi.

Vậy mà chàng họa sĩ nghèo của chúng ta đã thực hiện được điều đó.

Bạn có biết chàng đã đào đâu ra tiền không?

Chàng đã bán căn nhà xinh xắn của mình!

Và nếu như có ai mua chàng, có lẽ chàng cũng bán nốt. Ðó là điều ”vĩ đại“ của chàng.

Vì tình yêu bạn có dám làm như thế không?
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

14. Hạnh phúc trong một chiếc lá

Nhiều người hỏi: Hạnh phúc là gì? Là được yêu. Là giàu có. Là không còn đau khổ. Khái quát hơn, người ta nói: Hạnh phúc là thỏa mãn được ước mơ của mình. Nhưng ước mơ là một thứ vô hình, vô định. Nó có thể lớn như một tòa lâu đài, có thể xa như một vì sao, long lanh như một hạt ngọc, nhưng cũng có thể nhỏ như một hòn bi, gần như một vòng tay và giản dị như một chiếc lá.

Hạnh phúc gắn liền với sự vô định, sự mong manh, sự tạm bợ. Vì thế tất cả những cái gì là cố định, là trường tồn, là vĩnh cửu đều không phải là hạnh phúc. Một đóa hoa không bao giờ tàn thì không phải là hoa, một hương thơm không bao giờ phai thì không còn sự quyến rũ, một trận cười bất tận sẽ biến thành cơn điên. Một nhan sắc vĩnh cửu với thời gian sẽ làm mọi người sợ hãi.

Đó là bi kịch của hạnh phúc. Mọi người đều cầu mong được hạnh phúc, nhưng bản chất của hạnh phúc là mong manh, là tạm bợ, trong khi nhân loại khát vọng vĩnh cữu và trường tồn. Nhưng vĩnh cữu và trường tồn để làm gì nếu không có hạnh phúc? Nói cách khác: trường tồn để làm gì nếu không có sự tạm bợ và mong manh?!

Đó là nghịch lý cay đắng nhất, tàn nhẫn nhất mà con người phải chấp nhận.

Và đứa trẻ đã chấp nhận hòn bi thủy tinh trong suốt. Đối với nó, hòn bi còn quý hơn hạt kim cương. Tòa lâu đài xây bằng cát trên bờ biển còn quý hơn những biệt thự sang trọng. Mỗi lứa tuổi, mỗi hoàn cảnh có một hạnh phúc riêng. Niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi thời thơ ấu là sáng mồng một Tết, mặc áo mới để được dẫn đến trụ sở xã, ở đó người ta phát cho mấy cái bánh ngọt, cốm, mứt gừng… Sau đó đi chơi trên những con đường quê nhiều áo mới, nhiều sòng bài bầu cua cá cọp, nhiều tiếng trống lân rộn ràng.

Hạnh phúc của chàng trai trẻ có khi chỉ là một chiếc khăn tay ướp vài cánh hoa lài hay một bức thư tình mực tím viết đơn sơ trên trang giấy học trò…

Nhưng hạnh phúc không dừng lại ở đó. Hạnh phúc như một thứ thuốc gây nghiện. Người ta càng lớn lên, càng giàu có thì những hạnh phúc nhỏ nhoi ấy càng trở nên vô nghĩa, lạt lẽo… Hạnh phúc leo lên những nấc thang mới. Đứa trẻ không còn thích hòn bi mà là một đồ chơi điện tử đắt tiền có rơ-mốt điều khiển từ xa, chiếc bánh cốm phải được thay bằng một bữa tiệc ở nhà hàng. Chàng trai trẻ không còn ngây ngất vì chiếc khăn tay ướp hoa lài mà chờ mong một mùi nước hoa đắt tiền trên tóc người yêu nơi vũ trường sang trọng.

Hạnh phúc bay theo những nhu cầu vô tận… Đứa trẻ đã chơi quen đồ chơi điện tử sẽ khóc òa khi cho nó một hòn bi. Cô gái đã quen dùng nước hoa đắt tiền sẽ thấy bị xúc phạm khi người yêu tặng một nhánh hoa lài. Như thế có nghĩa là hòn bi và nhánh hoa lài không còn là niềm hạnh phúc nữa mà đã trở thành sự đau khổ.

Ngày đó tôi nghèo. Buổi chiều chở người yêu ghé quán cóc uống một chai Chương Dương và một dĩa ốc leng xào dừa, thấy tràn đầy hạnh phúc. Sao cũng là tôi mà bây giờ uống Heineken có khi còn thấy chua lè? Vậy thì hạnh phúc ở đâu?

Có phải hạnh phúc cũng giống như Thời Gian, nó trôi đi và không bao giờ trở lại? Có phải Hạnh Phúc cũng giống như tuổi thơ, nó long lanh như giọt sương trên lá cỏ rồi tan biến khi nhịp sống xô bồ ập đến? Có phải hạnh phúc như chiếc lá kia, lộng lẫy trên cành cao, mượt mà trong nắng sớm, rồi tàn úa. Vàng. Khô. Và lìa cành?

Con người nhìn hạnh phúc ra đi trong nỗi ngậm ngùi, nhưng chiếc lá xa cành sao mà nhẹ nhàng thế. Một cơn gió thoảng qua, nó chỉ khẽ rùng mình, rồi chao nghiêng như một cánh bướm, như một vũ công biểu diễn tác phẩm cuối cùng của mình giữa trời và đất, giữa hoa và cỏ. Nó la đà, uốn lượn, nó thong thả, ung dung và thanh bình lướt trong không gian tĩnh lặng, một chút do dự, một chút đắn đo, một chút luyến tiếc. Rồi như một cánh chim, nó đậu xuống mặt đất vàng rực những lá khô nằm chờ sự hóa thân vào đất, sự luân chuyển mầu nhiệm vào mạch nhựa cây để rồi trở thành một chiếc chồi non khác, một chiếc lá khác….

Hốt nhiên ta nhớ đến bốn câu thơ của Bạch Cư Dị:

Ly ly nguyên thượng thảo

Nhất tuế nhất khô, vinh

Dã hỏa thiêu bất tận

Xuân phong xuy hựu sinh.

Cỏ trên thảo nguyên rậm rì. Mỗi năm cứ khô đi rồi lại tốt tươi. Lửa hoang dã thiêu bất tận. Nhưng mỗi khi gió Xuân về thì cỏ lại mọc lên…

Hạnh phúc nào có khác gì cỏ trên thảo nguyên, ngắn ngủi nhưng trường sinh, tàn lụi nhưng tươi tốt. Hạnh phúc tiềm ẩn trong trời đất, trong mỗi con người. Hạnh phúc có thật dù không hề nói, không hề suy nghĩ.

Chiếc lá không biết suy nghĩ, nhưng nó hiểu hạnh phúc hơn chúng ta, vì thế nó ung dung nhìn ngắm sự luân chuyển của trời đất, giống như bốn mùa thay đổi. Mỗi chiếc lá mang trong cuộc đời nó cả Xuân, Hạ, Thu, Đông vì thế khi nó lìa cành, nó hiểu rằng rồi mùa Xuân lại về và lá lại đâm chồi trên cành cây, lại bắt đầu một hạnh phúc.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

15. Sợ vợ

Trong tiếng Việt gần như không có thuật ngữ ”sợ chồng” mặc dù xã hội không thiếu những người đàn bà coi chồng như chúa tể trong gia đình. Ấy vậy mà cái thuật ngữ SỢ VỢ, từ ngàn xưa, đã trở thành phổ biến, coi như một trong những thuộc tính quan trọng của đàn ông. Từ SỢ VỢ gợi lên một hình ảnh đáng yêu, dí dỏm, thơ mộng và… hiền triết. Socrate là một triết gia lớn của nhân loại nhưng ông ta cũng là một người sợ vợ. Câu nói nổi tiếng của ông, từ hơn hai ngàn năm nay đã được giới mày râu nhâm nhi một cách thú vị:

- Bạn hãy lấy vợ đi, vì bề nào cũng có lợi. Nếu lấy được một người vợ hiền thì bạn là một người đàn ông hạnh phúc, còn nếu lấy phải một bà chằn thì bạn sẽ thành một triết gia.

Như thế lấy vợ thật là tuyệt diệu.

Bạn tôi, có rất nhiều người thuộc trường phái sợ vợ. Có người mới lấy vợ về đã sợ, có người sợ dài dài trong suốt vài chục năm chung sống. Phó thường dân cũng sợ vợ mà người có chức quyền cũng sợ vợ. Người ít học lẫn các bậc trượng phu trí thức đều thuộc lòng câu ”nhất vợ nhì trời”.

Chẳng hạn như anh bạn bác sĩ của tôi lấy vợ đã ngoài hai mươi năm. Bữa kia hai ông bà rủ nhau đi chợ mua sắm các thứ để kỷ niệm ngày đám cưới.

Người vợ bảo:

- Anh giữ tiền nhé. Em mua cái gì thì anh chi.

Người chồng cất tiền vào túi áo. Nhưng khi hai người đến đầu chợ thì bà vợ lại cằn nhằn:

- Ðến chỗ đông người mà sao anh lớ ngớ như một thằng ngố vậy? Anh không biết bọn móc túi đầy trong chợ à?

- Ðừng lo, người chồng nói, chúng nó không làm gì được anh đâu.

Bà vợ ngắm nghía đức ông chồng một lúc rồi quyết định:

- Ðưa hết tiền đây. Anh giữ tiền, mất như chơi.

Người chồng vâng lời, đưa tiền cho vợ. Bà ta bỏ tiền vô ví, cầm chắc trong tay.

Hai người bước vô chợ, đi vòng vòng ngắm nghía hàng hóa một hồi, cuối cùng bà vợ quyết định mua một bộ đầm 130 ngàn. Nhưng khi móc ví trả tiền thì mới hay là ví đã bị rạch và gói bạc biến mất. Anh chồng nhỏ nhẹ nói:

- Phải chi lúc nãy em để anh giữ tiền thì đâu đến nỗi.

Bất ngờ bà vợ túm lấy cổ áo chồng, gầm lên:

- Ðồ ngu! Tại sao tôi bảo anh đưa tiền cho tôi giữ mà anh cũng đưa? Anh phải biết ngăn cản tôi chớ. Thế mới gọi là đàn ông chớ, đàn ông gì mà vợ bảo sao nghe vậy để đến nỗi mất hết tiền. Lỗi của anh sờ sờ như thế mà còn đổ cho người ta. Ðàn ông gì mà hèn quá vậy!

Bị nắm cổ áo ngay giữa chợ, anh chồng mắc cỡ quá, năn nỉ:

- Anh xin lỗi. Buông anh ra đi. Ðừng làm thế ở chỗ đông người.

Nhân vật thứ hai là một người tướng tá đạo mạo. Buổi trưa nóng nực, tình cờ tôi gặp anh ta trong một quán nước. Thấy cổ tay anh ta bị những vết xước chằng chịt như có ai lấy dao lam cứa hàng trăm nhát trên đó, tôi bảo:

- Ủa, tay của ông sao vậy?

Anh bạn vốn là một nhà giáo. Trước khi trả lời câu hỏi, anh ngó lui ngó tới xem có học trò ngồi chung quanh không, rồi rỉ tai tôi:

- Vợ nó ngắt.

- Trời đất! Ngắt mấy ngày mà nát bấy cái cổ tay vậy?

- Có một đêm thôi. Ðêm kinh hoàng. Mất ngủ.

- Sao ông không kháng cự?

- Vì mình có lỗi.

- Lỗi gì?

- Bị bắt quả tang đi chơi với bồ nhí.

- Thì cứ xin lỗi và hứa không quan hệ lăng nhăng nữa là được rồi. Việc gì mà phải nằm im chịu trận âm thầm trong đêm như thế?

Anh bạn giáo viên thở dài, xổ cái ống tay áo xuống, cài măng sét để che những móng vuốt đàn bà, đoạn phân trần:

- Nhà chật, con cái nằm ngủ sát bên cạnh. Vợ chồng cãi nhau sợ chúng nghe, chúng nó buồn, còn mình làm cha cũng sợ mất uy tín, vì thế mà cả bà vợ lẫn mình không ai nói một tiếng. Cuộc trừng phạt vì thế đã diễn ra quằn quại trong đêm tối, nhức nhối trong âm thầm.

Nhân vật thứ ba là một anh nhà văn. Ngày nọ tôi đến nhà anh ta chơi, vừa bước vào nhà đã nghe tiếng cãi vã phía trên cầu thang. Tôi vừa định lên xem chuyện gì thì thấy anh nhà văn hối hả chạy xuống, phía sau là một cô vợ trẻ cầm con dao thái thịt đuổi theo bén gót. Ðể bạn khỏi ngượng tôi nép vào trong gầm cầu thang, trốn. Cô vợ vung dao chém một nhát, anh nhà văn né kịp, con đao Ðồ Long chém vô tường nhá lửa. Cô vợ trẻ phóng lưỡi dao về phía đức ông chồng nhưng hụt. Một trận quyền cước tiếp theo sau. Anh bạn nhà văn nép vô xó chịu đòn, lưng áo bị xé toạc, hằn in dấu cán chổi của trận đòn ngày hôm trước. Lúc ấy tôi bèn xuất hiện can ngăn, đỡ đòn cho bạn. Bà vợ trẻ cúi xuống nhặt con dao, dứ dứ trước mặt chồng mấy cái rồi bỏ đi. Tôi dìu anh bạn lại ngồi nơi cầu thang. Hỏi vì sao bị cô vợ bé đánh quá xá vậy, thì đáp:

- Tối hôm qua mình về với bà cả và mấy đứa nhỏ.

- Thế bà Hai có đồng ý không?

- Mình có xin phép nghiêm chỉnh.

- Vậy tại sao lại bị đánh?

Anh bạn kéo chiếc khăn tay ra hỉ mũi sồn sột, sau đó ho khan lên mấy tiếng rồi mới trả lời:

- Ðó là tại vì lúc ra đi thì mình khỏe mạnh mà khi trở về thì mình bị cảm cúm. Bà Hai hỏi: “Anh về nhà làm gì mà bị mất sức dữ vậy?” nhưng mình có làm gì đâu mà mất sức.

Nói đến đó thì anh bạn hắt xì hơi mấy cái liên tiếp, rồi lại phân trần:

- Ông nghĩ coi, cảm cúm có khi là chuyện trái gió trở trời.

Trên đây là ba mẩu chuyện sợ vợ với ba nhân vật khác nhau, ba tình huống khác nhau. Bạn đọc chớ vội chê họ là những kẻ hèn nhát đần độn. Anh bác sĩ trong mẩu chuyện thứ nhất sợ vợ chẳng qua vì lòng độ lượng, không muốn hơn thua với đàn bà, thật đáng khen thay! Anh giáo viên trong mẩu chuyện thứ hai sợ vợ vì mục đích vô cùng cao cả đó là ngại ảnh hưởng xấu đến con cái, thật đáng kính thay! Còn anh nhà văn trong mẩu chuyện thứ ba thì láu cá hơn nhiều. Hắn sẵn sàng đưa lưng ra chịu đấm để được… bắt cá hai tay.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

16. Nỗi khổ của người hai vợ

Bạn bè gặp chàng thường ngã mũ chào:

- Sư phụ.

Thực ra chàng chưa đi dạy học bao giờ. Cũng chưa hề thí phác quy y cửa Phật. Chẳng qua bằng hữu nể chàng vì chàng có hai vợ.

Sao lại không nể? Ngày xưa nhiều bậc vua chúa lên ngôi lúc còn là một đứa bé con, chẳng hạn như vua Phổ Nghi bên Tàu, thế nhưng tự cổ chí kim, muốn lấy vợ và ”hoàn thành nhiệm vụ“ thì anh chồng ít nhất cũng phải bước vào tuổi thành niên. Nhiều người thắc mắc hỏi:

- Tại sao cai trị một nước lại chỉ cần một đứa bé, còn cai trị một người đàn bà lại cần phải thành niên?

Xin thưa:

- Là vì cai trị một nước còn dễ hơn cai trị một người đàn bà.

Thấy chưa, làm chồng một người đàn bà nó quan trọng như thế đấy, huống chi làm chồng một lúc hai người đàn bà, hỏi sao bạn bè gặp chàng không kính cẩn ngã mũ thưa: “sư phụ”?

Tuy vậy, nếu có ai tỏ lòng ngưỡng mộ mà mời chàng đi ăn nhậu thì chàng sẽ từ chối ngay. Ai không hiểu tưởng chàng kiểu cách. Thực ra thì chàng không bao giờ dám ăn cơm ngoài đường.

Nếu hôm đó chàng ở với bà Cả thì chàng phải về ăn cơm với bà Cả. Ði nhậu với bạn, chàng sẽ bị bà Cả nghi là ăn cơm với bà Hai.

Ngược lại, nếu hôm đó chàng ở với bà Hai, đi nhậu với bạn cũng bị bà Hai nghi là về ăn cơm với bà Cả. Chàng có giải thích cách nào họ cũng không tin. Và họ nổi tam bành lên.

Thế là đành giã từ bè bạn, không bao giờ dám dự một cuộc vui nào với anh em, chàng trở nên cô độc, ích kỷ và hèn.

Nhưng suốt ngày lẩn quẩn ở nhà bếp của mình cũng đâu đã được yên thân. Ngày nọ, chàng ăn trưa ở nhà bà Cả xong thì đến với bà Hai. Tới chiều, bà Hai dọn cơm nhưng chàng mệt nên chỉ ăn qua loa vài miếng.

Bà Hai mắng:

- Thấy chưa! Về nhà được người ta chăm sóc quá mà, ăn toàn cao lương mỹ vị. Ðến đây còn bụng dạ đâu mà ăn nữa.

Chàng sợ quá. Lần sau rút kinh nghiệm, khi bà Cả dọn cơm, chàng chỉ ăn nửa chén để đến chiều lại nhà bà Hai ăn uống cho nhiệt tình một chút. Quả nhiên chàng ăn rất ngon miệng. Một lát cá thu chiên, một dĩa dồi trường, một khoanh giò lụa. Cuối cùng thấy còn hai chai bia, chàng xực luôn nửa hộp phô mai Ðầu Bò, lòng hí hửng chắc được bà Hai khen ngợi. Ngờ đâu sét đánh ngang tai:

- Làm gì mà ăn dữ vậy? Bộ ở nhà ”vui vẻ“ với bà xã nhiều quá, hết xí-oách nên ăn nhiều để lại sức hả?

Thua! Vô phương cứu chữa!

Như vậy có thể kết luận: Nếu bạn có hai vợ thì bạn không được ăn ít, cũng không được ăn nhiều, không được ăn quá đạm bạc mà cũng không được ăn quá bổ dưỡng.

Nhưng bạn có thể bị bà Cả hoặc bà Hai cấm ăn hoặc bắt ăn, chuyện đó còn có thể chịu được bởi vì nam nhi như cánh đàn ông của bọn mình thường coi nhẹ miếng ăn. Nhưng nếu bạn bị “cấm bệnh“ thì bạn sẽ phải làm gì?

Năm nay chàng cũng gần ngũ tuần. Mỗi khi trái gió trở trời chàng hay nhức mình, uể oải, hắt hơi, sỗ mũi. Nhức mình thì có thể giấu được nhưng hắt hơi, sổ mũi thì làm sao giấu?

Về nhà bà Cả ư? Ðố bạn dám hắt hơi! Bạn sẽ nghe bà Cả bình luận ngay:

- Mê vợ bé quá mà! Ðêm bảy ngày ba mà làm gì không hắt hơi, sổ mũi.

Còn nếu bạn bụm miệng không kịp, rủi ho mấy tiếng ở nhà bà Hai thì lời bình luận sẽ văn chương bay bướm hơn:

- Gia đình sum hợp, nệm ấm chăn êm, mây mưa thỏa sức. Ho lao là phải.

Tóm lại nếu bạn có hai vợ thì bạn sẽ không được quyền bệnh. Nếu lỡ trái gió trở trời thì phải mua thuốc uống gấp. Nhưng phải để ý, đừng bao giờ dại dột uống thuốc trước mặt các bà mà hãy vô toa-lét đóng kín cửa.

*

Có một lần chàng in tấm danh thiếp. Tình cờ lúc ấy bà Hai lại đi theo. Chàng bảo bà đứng ngoài để coi xe còn mình vào đặt hàng. Nội dung danh thiếp rất đơn giản.

TRẦN CUNG

Thầu khoán.

Nhà riêng: 200 đường Lê Lợi.

Kể từ khi in xong, lúc nào chàng cũng bỏ hộp danh thiếp trong xách tay, trong túi áo, gặp bạn bè là đưa cho nó oai.

Ngày kia bà Cả gọi chàng đến bên giường hỏi vặn:

- Nhà của anh là nhà này hay là nhà của con chợ trời ấy?

- Dĩ nhiên là nhà này.

- Vậy tại sao anh ghi trong danh thiếp: nhà riêng 100 đường Quang Trung?

Chàng lật tấm danh thiếp lên xem. Trời ạ! Không biết trò phù thủy nào đã biến cái địa chỉ 200 đường Lê Lợi thành 100 đường Quang Trung. Chàng cứng họng. Chứng cớ rành rành không thể chối cãi.

Hôm sau chàng gặp bà Hai:

- Em đã đến nhà in thay đổi địa chỉ trên danh thiếp phải không?

- Ðúng! Bộ anh không coi nhà em là nhà của anh hả?

Tất nhiên bố chàng cũng không dám nói không. Chàng đành gật gật. Bà Hai cười cười:

- Vậy thì việc em đến nhà in đổi địa chỉ, có gì anh phải khiếu nại?

Nhưng câu chuyện không chấm dứt ở đó.

Ngày kia, khi chàng vừa đi làm về đã bị Bà Hai thộp cổ. Cọc danh thiếp đặt ”kịch “xuống bàn như bộ bài nằm sấp.

- Lật lên đi!

Chàng nhìn tấm danh thiếp, lòng nghi hoặc, không biết trò quỷ quái nào lại diễn ra nơi mẩu giấy bé nhỏ tội nghiệp kia. Bàn tay chàng run lẩy bẩy, chàng có cảm tưởng nếu mình lật nó lên thì chẳng khác nào tự lật mặt nạ của chính mình.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

17. Huyền thoại về người chồng bản lãnh

Trước đây một nhà văn nổi tiếng của Sài Gòn có viết một truyện ngắn lấy tên là TÌNH CAO THƯỢNG. Ðại khái, một cô tiểu thơ trẻ đẹp lấy một người chồng cũng trẻ đẹp, trí thức. Ai cũng cho là xứng đôi vừa lứa. Nhưng trong quan hệ tình dục thì cô vợ chỉ tìm thấy ”cảm giác mơ hồ về hoan lạc“ và thường thì sau mỗi lần như vậy anh chồng trí thức kia chỉ biết xin lỗi.

Ngày nọ, cô tiểu thơ về quê. Trên một đoạn đường vắng, cô bị tên côn đồ hãm hiếp. Và cô tiểu thơ đã tìm thấy khoái cảm, đến nỗi về sau khi tên côn đồ bị bắt đưa ra tòa thì chính cô tiểu thơ đã bãi nại cho hắn.

Câu chuyện ấy đã làm tôi băn khoăn suốt thời trai trẻ. Tôi cho rằng đó là một khám phá quan trọng, đáng cho các ông chồng phải suy nghĩ. Nhưng về sau, khi đã yêu và đã lập gia đình, tôi mới thấy rằng câu chuyện trên hoàn toàn giả tạo, cá biệt, chứng tỏ người viết không hiểu gì về đàn bà hoặc không từng quan hệ xác thịt với một người đàn bà mình yêu.

Tác giả truyện ngắn trên chắc chắn cũng không hiểu được một người đàn bà cần gì ở người đàn ông khi quan hệ tình dục. Truyện ngắn kia có lẽ được xây dựng trên quan niệm: làm tình kéo dài sẽ đem lại khoái lạc cho người đàn bà. Ðó là một quan niệm hời hợt, thực dụng và quá đơn giản. Quan niệm đó cũng không đúng ngay cả với những cô gái làng chơi.

Cái mà các cô gái làng chơi này cần ở người đàn ông để có sự khoái lạc xác thịt lại chính là tình cảm chứ không phải những ngón nghề.

Ðọc một số sách dạy về nghệ thuật chăn gối giữa hai vợ chồng, chúng ta thường bắt gặp lời khuyên: Hãy vuốt ve, mơn trớn, hãy làm khúc dạo đầu thật kỹ trước khi vào cuộc thì sẽ đạt được đỉnh cao của khoái cảm. Lời khuyên ấy đúng, nhưng hoàn toàn thiếu sót và không áp dụng được đối với rất nhiều trường hợp, không cần thiết đối với một số trường hợp khác.

Một người đàn ông có thể làm tình rất thành công, rất tuyệt vời với người đàn bà này, nhưng lại rất thất bại, rất tồi tệ với người đàn bà khác. Tại sao? Trả lời được câu hỏi ấy là giải quyết được tất cả những vấn đề mà chúng tôi vừa đặt ra trên đây.

Bạn tin không, nếu có người nói: Yếu tố quan trọng nhất, cơ bản nhất để đem lại khoái lạc xác thịt cho người đàn bà đó là tình yêu. Sự ”bền bỉ“ của người đàn ông tuy cần thiết nhưng rất phụ. Trong quan hệ xác thịt có thể thiếu sự bền bỉ nhưng không thể thiếu tình yêu. Nếu chỉ có sự bền bỉ mà không có tình yêu thì sự bền bỉ ấy chẳng những vô dụng mà còn biến thành cực hình mà người đàn bà phải gánh chịu một cách khốn khổ và nhục nhã. Càng bền bỉ càng kéo dài sự khốn khổ ấy.

Như chúng ta đều biết, đàn bà bao giờ cũng chậm hơn đàn ông về sự kích thích tình dục, chính vì thế mà ”khúc dạo đầu“ (như sách vở thường nói) là rất cần thiết.

Nhưng khúc dạo đầu là gì?

Nếu không có tình yêu thì không thể có khúc dạo đầu ấy.

Thiếu tình yêu, người đàn bà sẽ rất sợ khi bị người đàn ông nọ đụng chạm, vuốt ve, hôn hít, ôm ấp… chính sự chán nản ấy chẳng những không khơi dậy hứng khởi mà còn làm cho cảm xúc tàn lụi, cơ bắp teo lại, nhường chỗ cho sự ê chề, mệt mỏi. Thế thì cái ”khúc dạo đầu không tình yêu“ ấy chỉ có tác dụng báo hiệu cho người đàn bà một cuộc tra tấn sắp phải chịu đựng, một trò hề sắp diễn ra.

Có tình yêu thì chỉ cần một cái nắm tay của người đàn ông, người đàn bà đã rung động toàn thân rồi, nói chi đến cái hôn, cái vuốt tóc hay sự mơn trớn ngọt ngào. Có người đàn bà đạt đến cực độ khoái cảm ngay trong khúc dạo đầu, cũng có người coi đó là giai đoạn tuyệt diệu nhất trong cuộc làm tình. Khúc dạo đầu trong tình yêu say đắm sẽ là nắng, là gió, là cơn mưa lành nuôi cho trái hạnh phúc chín đỏ và những động tác xác thịt tiếp theo đó sẽ là sự hái trái, sự nhâm nhi mật ngọt và sự chết lịm.

Khi một cặp vợ chồng yêu nhau thì không cần đến lời dạy của sách vở họ cũng thấy cần phải có khúc dạo đầu ấy. Ngược lại, nếu không có tình yêu hoặc cặp vợ chồng ấy đã chán nhau thì họ không thiết tha gì đến khúc dạo đầu, nếu có cũng chỉ là sự gắng gượng nhạt nhẽo và thường đem lại sự cụt hứng nửa chừng, đôi khi khiến họ không thể tiếp tục cuộc chung đụng hoặc tiếp tục một cách qua quít. Kết quả sẽ rất bi thảm: hoặc cả hai người đều muốn kết thúc nhanh để ngủ, hoặc một người sẽ tự động cắt ngang để nằm một mình cho thoải mái.

Ngược lại, nếu có tình yêu thì chẳng những khúc dạo đầu sẽ rất miên man, rất phong phú mà phần ”chủ đề” của bản giao hưởng xác thịt sẽ tuyệt vời hơn với những biến tấu đầy bất ngờ và diễm ảo.

Người đàn ông bền bỉ hay không cũng phụ thuộc vào tình yêu. Tình yêu giúp người đàn ông tự tin hơn vì hiểu rằng chỉ cần một cử chỉ nhỏ của mình cũng đủ làm rung động người đàn bà, do đó tinh thần người đàn ông trở nên mạnh mẽ, thể xác của người đàn ông trở nên cứng cáp, vững chải và bền bỉ.

Ðó là phép lạ của tình yêu.

Tình yêu không những chỉ tạo ra văn học và nghệ thuật, tình yêu còn tạo ra nhục cảm.

Vì thế người đàn ông bản lãnh trong quan hệ yêu đương là người được yêu, biết yêu và biết cách bày tỏ tình yêu say đắm ấy với người đàn bà.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

18. Hỏi thế gian: tình là vật gì?

Ngày xưa người chiến binh ngoài mặt trận muốn gởi thư về nhà cũng phải mất cả tháng trời ngựa chạy hay nửa tuần trăng chim nhạn bay. Nay, ngồi trước máy vi tính, chỉ cần nhắp chuột vài lần là đã có thể gởi một bức thư kèm hình ảnh của mình cho người thân đang ở bên Mỹ trong vòng không tới mười giây đồng hồ. Rõ ràng là lịch sử nhân loại có những bước tiến lớn.

Nhưng có một thứ mà từ hàng ngàn năm nay chẳng những không tiến mà còn bước lùi, không phát triển mà còn thoái hóa. Đó là TÌNH YÊU.

Ngày xưa khi yêu nhau người ta thề cùng sống chết, ví dụ như mối tình Trọng Thủy – Mỵ Châu. Khi Trọng Thủy chạy theo dấu lông ngỗng, thấy vợ mình nằm chết bên đường thì vô cùng đau xót, chàng an táng vợ rồi nhảy xuống cái giếng trong thành Cổ Loa mà tự tử. Bên Tây cũng có Roméo và Juliette yêu nhau mà không lấy được nhau, đành cùng chết trong chốn nhà mồ…

Ngày nay, những chuyện tình đồng sanh đồng tử như thế đều bị xem là lẩm cẩm, lỗi thời. Không ít những cô gái ngày nay buổi sáng hẹn hò với anh chàng này, tối đến nhảy đầm với anh chàng nọ. Trong chuyến đi từ Moscow về Seoul tháng 11 năm ngoái tôi gặp một cô hướng dẫn viên du lịch người Hàn Quốc. Ban đầu nói về các trang web, sau đó chuyển qua đề tài điện thoại có hình ảnh. Cô gái kể rằng những người bạn của cô ở Seoul rất táo bạo. Họ làm quen với nhau trên mạng và sau đó nói chuyện với nhau bằng điện thoại có hình. Nhưng chỉ nhìn thấy mặt nhau, hai người chưa thỏa mãn tính tò mò, họ đồng ý cho nhau xem những bộ phận khác của cơ thể. Và thế là mặc dù chưa hề gặp gỡ nhau, nhờ chiếc điện thoại truyền hình, họ đã có thể biết tường tận về cơ thể của nhau rồi.

Cho nên nam nữ ngày nay sẽ không còn tìm thấy sự hồi hộp khi chạm vào ngón tay của người tình, sự ngất ngây bởi một mùi hương tóc thoảng qua. Lớp trẻ bây giờ yêu nhau và bỏ nhau như thay áo. Buổi sáng bị bồ đá, buổi chiều đã có ngay bồ mới vì tên tuổi của hắn ta đã nằm sẵn trong bộ nhớ của chiếc hand-phone. Họ ăn món tình yêu một cách ngấu nghiến. Họ vồ lấy, bỏ vô miệng và nuốt, không cần nhai. Có lẽ vì món ăn bây giờ nhiều quá, không phải mất tiền mua. Họ ăn nhanh, họ hưởng thụ tối đa, không kịp nhận ra hương vị.

Một cô gái trẻ đến nhà một chàng trai nhưng chàng ta đi vắng. Cô gái chui vào giường của chàng nọ, kéo mền, ngủ và chờ đợi. Tôi đã chứng kiến nhiều cô gái trẻ chờ đợi như thế trên cùng một chiếc giường.

Một lá thư tình buộc dưới chân con chim nhạn hoàn toàn khác với một lá thư tình truyền qua mạng internet, vì thế bản chất của tình yêu cũng đã khác. Tình yêu ngày xưa là cái gì mong manh như mây khói, nên nó lãng đãng, nó nhiều truyền thuyết và đầy chất huyền thoại. Tình yêu bây giờ là tốc độ, hưởng thụ và thực dụng. Các nhà thơ trẻ bây giờ chê, không làm thơ tình nữa.

Hỏi thế gian tình là vật gì?

Mà khiến sinh tử tương hứa

Trời Nam đất Bắc song phi nhạn

Cổ thụ mấy mùa hàn sương

Hoan lạc thú, biệt ly sầu

Nỗi khổ chứa đầy tình tương tư.

Những câu thơ ấy vang lên giữa núi rừng, sau một trận tử chiến. Người ngâm nga nó là một nữ sát thủ tên là Lý Mạc Sầu. Nhân vật này lòng đầy oán hận, giết người không gớm tay. Đó lại là một dạng khác của tình yêu: tình yêu biến thành tình thù.

Nhưng bài thơ trên chắc chắn không dành cho ả. Đó là bài thơ mà nhà văn Kim Dung viết tặng cho mối tình của Dương Qua và Tiểu Long Nữ, và đã mượn cái miệng của Lý Mạc Sầu gởi thông điệp xót xa ấy cho thế gian.

Hỏi thế gian tình là vật gì?

Xưa nay người ta thường hỏi: tình là gì? Không ai hỏi tình là VẬT gì. Chữ VẬT khiến ta liên tưởng đến một món nợ phải trả, một thực thể hiện hữu trấn giữ ngạo mạn giữa tâm trí, một biểu tượng quyền lực chi phối, quyết định vận mạng đôi lứa và có lẽ còn là một linh vật kiểu như linga hay yoni trong văn hóa Chăm đầy ấn tượng. Vật cũng có thể là một cái gì mong manh như sương khói, thoắt ẩn thoắt hiện như chiếc lá khô, như áng mây hay như cái bóng.

“Tình yêu là cái bóng của mình, khi ta đuổi theo thì nó chạy nhưng khi ta bỏ chạy thì nó đuổi theo… Tình yêu là con quái vật kỳ lạ: khi ta bỏ đói thì nó sống, khi cho nó ăn no thì nó chết.”

Vì nó đầy nghịch lý như thế nên Lý Mạc Sầu vẫn cứ hỏi thế gian:

Tình là vật gì, mà khiến sinh tử tương hứa?

Không ai biết nó là vật gì nên nó là tất cả: là một cơn mưa, một vạt nắng chiều, một giọt sương trên lá hay một giai điệu: Những ngày không có anh, biển bạc đầu thương nhớ. Những ngày không có anh, lòng thuyền đau rạn vỡ.

Tình yêu vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa khơi nguồn sức sống vừa gieo rắc cái chết, nó đem lại hạnh phúc nhưng cũng nhận chìm con người trong khổ đau. Tình yêu tạo ra văn học nghệ thuật nhưng cũng gieo rắc chiến tranh.

Ngày xưa, Ngô Tam Quế chỉ vì người thiếp yêu của mình là Trần Viên Viên bị Lý Tự Thành chiếm đoạt mà đã đầu hàng nhà Thanh và dẫn quân Thanh về tiêu diệt nhà Minh. Họ Ngô đoạt lại người đẹp nhưng nhà Thanh thì đoạt được cả một đất nước Trung Hoa rộng lớn, lập nên một đế chế hùng mạnh tồn tại suốt mười ba triều. Cuộc tình giữa Ngô Tam Quế và Trần Viên Viên đã gây nên một cuộc chiến tàn khốc làm cho hàng vạn người chết trong số đó có gia tộc của Ngô Tam Quế bị Lý Tự Thành tru di.

Không có cái gì đa dạng bằng tình yêu. Tình yêu là một thế giới Nhị Nguyên, tương phản cùng cực nhưng cũng dung hợp cùng cực. Nó là Thái Cực Đồ: bao gồm hai yếu tố âm và dương, trong âm có dương và trong dương có âm, tương tác, vận động và chuyển hóa thành vạn vật.

Tình yêu giống như cái ĐẠO của Lão Tử. Nó bao trùm vũ trụ. Cũng như nó đã bao trùm lên cuộc tình của hai nhân vật Tiểu Long Nữ – Dương Quá và liên tiếp đẩy họ vào những tình huống chết người để thử thách lời thề đồng sinh đồng tử.

Mối tình ấy là lời nhắn gởi cho đời sau, cho những thời đại mà tình yêu đang bắt đầu tàn héo.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

19. Vinh quang của người sợ vợ

Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.

Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ. Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.

Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.”

Bậc vua chúa còn danh giá hơn vạn lần. Các ngài có rất nhiều vợ. Chẳng cần yêu đương, tán tỉnh, cũng đếch thèm viết thư tình, cứ phát hiện ra chỗ nào có gái đẹp là a-lê “tiến cung”, ba mươi giây là thảy lên giường. Nhưng cũng có khi đến ba mươi năm chưa chắc đã được hưởng ơn mưa móc.

Thời Tần Thủy Hoàng mỗi tối các bà vợ được tắm rửa, điểm phấn tô son, khử mùi lông nách… rồi cứ để trần truồng như thế, bọc trong cái chăn lớn. Hai tên quân hầu khỏe mạnh vác cả người lẫn chăn đem đến tận long sàng dâng vua, giống như đầu bếp dâng khoanh giò lụa. Vua hé chăn ra coi, thích thì “ngự” không thích thì bảo đổi người khác. Hai tên quân hầu lại vác một khoanh giò lụa khác. Cứ thế, chạy rầng rậc cả đêm.

Về sau này các ông con Trời ở bên Tàu đổi mốt khác. Buổi tối các ngài ngự trên chiếc xe dê, tà tà đi dọc các hành lang của tam cung lục viện. Ơn mưa móc của các ngài tưới vào đâu tùy thuộc vào sự ngẫu hứng của chú dê kéo xe. Rõ ràng là các bậc đế vương coi chuyện chăn gối với những bà vợ mình như một trò chơi ru-lét: trái banh dừng ở chỗ nào là trúng thưởng ở chỗ đó.

Tóm lại, ngày xưa cũng như ngày nay, trong dân gian hay trong cung cấm cánh đàn ông thường tự hào về quyền lực của mình đối với đàn bà và coi khinh những người sợ vợ.

Nhưng làm một đấng nam nhi đứng trong trời đất mà không biết sợ vợ thì uổng cả một đời trai!

Bạn tưởng tôi nói đùa? Bạn không hiểu? Thế bạn thích có một chiếc Dream mới tinh hay một chiếc xe mô-bi-lét cà rịch cà tàng?

Lái một chiếc Dream bạn phải nâng niu, cẩn trọng, sợ bị va quẹt, bị trầy xướt… nói chung là bạn phải làm nô lệ cho nó, nhưng phải công nhận là nó chạy êm ru. Sướng lắm!

Còn đi chiếc mô-bi-lét muốn vứt đâu thì vứt, không sợ trầy xước không ngại va quẹt, không sợ bị kẻ gian cuỗm mất… nhưng thường hay nghẹt cái bu-gi lắm các bố ạ!

Như vậy bạn đã hiểu tại sao người ta sợ vợ rồi chứ? Một người đàn ông hay bắt nạt vợ bằng la hét hay trừng mắt, tưởng là ngon, thực ra đó là người chồng bất hạnh nhất trên đời. Bởi vì hắn đã coi vợ mình như một chiếc mô-bi-lét cà tàng, chẳng có gì thú vị, chẳng cần phải nâng niu trân trọng.

*

Một người sợ vợ trước hết vì vợ anh ta đẹp. Đắc Kỷ vợ Trụ Vương, Bao Tự vợ U Vương … là những tuyệt sắc giai nhân mà hai ông vua đầy uy quyền của lịch sử Trung Quốc kia phải sợ hãi vâng lời răm rắp. Trụ là một người có tài về quân sự, có sức mạnh hơn người, ông đánh thắng bộ tộc Di, nhưng thua cái vòng số một nõn nà của Đắc Kỷ.

Ông là kẻ bạo ngược, mọi người đều sợ ông nhưng ông thì sợ Đắc Kỷ.

Nhan sắc của Bao Tự cũng lừng danh trong thiên hạ, nàng đã khéo dùng cái “vốn tự có” của mình để làm mê mẩn U Vương và quay ông ta như quay dế. Bữa nọ nàng làm bộ buồn và bảo: Thiếp bị stress. U Vương bèn cho làm massage thư giãn, cũng vẫn buồn, gọi các danh hài vô quậy, cũng chẳng vui được chút nào. Hỏi làm sao hết buồn thì đáp: Thiếp chỉ thích nghe tiếng xé lụa. Bao Tự vốn xuất thân là cô bé quê mùa do nhặt được trên nương rẫy đem về, nhưng kiểu giải trí này thì quả nhiên quá cầu kỳ và tốn kém. Bởi vì lụa Tô Châu, Hàng Châu ngày nay mua một mét cũng mất 50 đô la Mỹ, thời đó chắc cũng không rẻ gì, thế mà cứ đem cả ngàn mét lụa ra xé để mua lấy một cái nhếch môi cười. Chiều vợ mà như U Vương quả trên đời chỉ có một. Cho nên người Trung Quốc đã hoảng hốt mà thốt lên rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” Có nghĩa là vẻ đẹp của người nữ tuy không có sóng gió bão bùng nhưng rất dễ làm chìm đắm con người.

Vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Paris có chàng văn sĩ tài ba gốc người Áo tên là Rilke, tuy cách xa Trung Quốc ngàn dặm nhưng chắc vì cũng có kinh nghiệm mê gái đầy mình và có lẽ cũng đã từng bị các nương tử tóc vàng đì cho sói trán nên bèn nắm mấy cái sừng trên đầu mình mà khóc rằng: “Đẹp là một cái gì đáng sợ.”

*

Người sợ vợ, dĩ nhiên rất yêu vợ, cưng và quý như một báu vật trên đời. Người vợ muốn được chồng cưng và quý như thế phải là một người như thế nào chứ! Ngoài sắc đẹp, tính tình phải dịu dàng, phải có tri thức, phải có đời sống tình dục và đời sống tinh thần hòa hợp với chồng. Nói chung là một người không thể thiếu trong đời sống của anh chồng. Có như thế anh chồng mới sợ mất, sợ sứt mẻ tình cảm, sợ không làm vợ mình hài lòng, sợ nàng buồn bã, nhan sắc sẽ tàn phai.

Tôi biết có anh chồng cưng vợ đến nỗi có lần ghen mà không dám nói nặng, tất nhiên cũng không dám đánh, nhưng vì tức quá nên anh ta rút một cây nhang trên bàn thờ đập vào vai nàng một cái. Sách thánh hiền thường dạy: Chớ bao giờ đánh người đẹp dù là đánh bằng một đóa hoa. Anh bạn của chúng ta chắc cũng hiểu cái đạo lý ấy nên mới dùng một cọng nhang. Bởi vì đó là thứ dùng để thờ lạy, để tỏ lòng tôn kính. Đánh vợ mà đánh bằng một cọng nhang thì có khác gì quỳ trước mặt nàng mà hành lễ?

Nghĩ cho cùng, sợ vợ mà kiểu như U Vương, Trụ Vương thì chỉ đem lại tai họa. Nhưng sợ vợ mà biết nâng niu chiều chuộng nàng thì đúng là cái phước lớn của thiên hạ. Và nói theo triết học Thiền tông thì: Biết sợ vợ là đã NGỘ rồi vậy.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

20. Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây lấy vợ Nhật

Cơm Tàu thì tôi ăn nhiều, nhà Pháp, nhà Mỹ tôi cũng từng ở, còn vợ Nhật? Chà! Ế vợ gần bốn mươi năm nay, tìm một cô vợ Việt còn bị chê, đào đâu ra vợ Nhật?

Nghe ông bà kể lấy vợ Nhật sướng lắm. Mình đi làm về, ngồi phè cho nó cởi giày, xong nó đi pha nước cho mình tắm. Mình ăn cơm nó quỳ một bên nó hầu, có miếng ngon vật lạ nó gắp bỏ vô chén, mình uống trà, nó dâng cả hai tay mời.

Cứ cho những lời đồn đại này là có thực đi, thì lấy một cô vợ như thế đã sướng chưa?

Đi ăn cỗ tôi rất sợ phải gắp thức ăn bỏ vô chén người khác, nhưng bị người ta gắp thức ăn bỏ vô chén mình còn đáng sợ hơn. Heo quay chẳng hạn, tôi rất ớn, nhưng vị phu nhân kia lại vừa gắp một miếng to tổ bố đặt vào chén của tôi. Ăn thì không nổi, mà bỏ đi thì mất lịch sự. Nếu cô vợ người Nhật mà thường xuyên làm như thế thì có gì là hay? Còn chuyện vợ quỳ trước mặt dâng trà cho chồng nghe cũng lạ, nhưng – nếu có vợ – tôi lại thích làm ngược lại. Trên đời này không có gì thú vị bằng quỳ lạy một mỹ nhân, lúc ấy lòng ta bồi hồi xúc động, nước mắt ta trào ra như suối, toàn thân ta tỏa hào quang như được “Phật độ”. Như vậy xem ra tôi không thích lấy vợ Nhật rồi.

*

Còn chuyện ăn cơm Tàu? Chắc các bạn còn nhớ Từ Hi Thái Hậu đã tổ chức một bữa tiệc có một không hai trên thế giới để thết đãi Sứ thần 8 nước: Nga, Pháp, Mỹ, Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Ý, Đức tại Bắc Kinh. Bữa tiệc kéo dài 7 ngày đêm. Từ đêm 30 tháng chạp năm Nhâm Thân (1873) đến nửa đêm mồng 7 Tết Quý Dậu. Bữa tiệc ấy quy tụ mọi tinh hoa của nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc.

Tháng 2 năm 1972, khi tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, ông cũng được thủ tướng Chu Ân Lai đãi món thịt bò xào lá trà độc đáo. Đó là trà Long Tĩnh ở Hàng Châu. Tôi có đến thăm các đồi trà ở đó và cũng được dịp nhấm thử một tách trà thượng hạng của làng Long Tĩnh huyền thoại này, ăn thử mấy cái lá trà tươi – thứ được dùng để xào với thịt bò đãi tổng thống Nixon – thấy quả thật là có hương vị độc đáo.

Những quan chức của làng trà Long Tĩnh bảo rằng trà ở đây chỉ được hái vào khoảng từ năm giờ sáng đến bảy giờ sáng vì đó là lúc cây trà vừa thức dậy, trên những lá trà còn đọng những giọt sương. Lá trà là dương, giọt sương là âm. Trên một lá trà phải có hai yếu tố âm dương hòa hợp như thế mới được phép hái.

Nhưng không phải ai cũng hái được. Trà ở làng Long Tĩnh phải do những thiếu nữ đồng trinh hái thì mới giữ được cái hương vị cao quý, tinh khiết của nó. Ôi! đó là chuyện vẽ vời của người Tàu. Hồi xưa má tôi thường nói: Người Hàn Quốc thích tạo ra bi kịch, còn người Trung Quốc thì thích tạo ra huyền thoại. Quả không sai. Nhưng dù có huyền thoại hay không thì Trà Long Tĩnh cũng là thứ rất độc đáo.

Trở lại với cơm Tàu mà tôi đã “ăn” ở sáu thành phố bên Trung Quốc. Thực ra tôi có “ăn” đâu. Tôi chỉ “nếm thử”. Tại sao những món ăn made in China thứ thiệt tại những khách sạn sang trọng này lại hoàn toàn khác xa với những món ăn Tàu ở Chợ Lớn hay ở China Town tại New York, tại San Francisco?

Mười lăm ngày, bốn mươi lăm bữa ăn là bốn mươi lăm nỗi kinh hoàng của đời tôi. Bởi vì nó toàn mỡ. Rau luộc mà cũng xối mỡ thì có gì mà họ tha! Cá cũng mỡ, gà cũng mỡ, thịt cũng mỡ, tôm cua cũng mỡ… chỉ có độc một món không mỡ là CƠM. Và tôi đã ăn cơm với muối tiêu suốt mười lăm ngày. Một cô bạn nảy ra sáng kiến. Cô rót cho tôi một tô nước trà. Thay canh sao? Không phải. Để nhúng thức ăn vô rửa mỡ trước khi ăn. Good idea! Quả nhiên đó là ý hay. Nhưng ăn chung mà làm cái trò đó hơi bất lịch sự. Tôi đi siêu thị mua một ký đào. Bữa trưa tôi ăn cơm với muối tiêu và đào. Nhưng lòng tôi không thể nguôi được nỗi ấm ức. Những món mà người Tàu ở Chợ Lớn đã cho tôi ăn đâu rồi? Những dĩa cơm chiên hải sản tuyệt vời mà người Tàu ở San Francisco đãi tôi đâu rồi? Những món Điểm Sấm độc đáo mà tôi từng được thưởng thức ở New York sao tại chính quê hương của bà Từ Hy lại không có?

*

Nhà Tây thì sao? Theo cách hiểu thông thường thì đó là những ngôi biệt thự của Pháp, có nhiều mái, nhiều ngóc ngách, có sân vườn. Ở dưới rez-de-chaussée có hầm rượu, phía trên cùng, sát mái nhà, có grenier. Tường dày bốn năm tấc xây bằng gạch thẻ đặc ruột và vôi, phòng cao bốn thước rưỡi, cửa lớn cao ba thước, cửa sổ cao hơn hai thước.

Còn theo cách hiểu bây giờ thì “nhà Tây” bao gồm cả nhà Mỹ, mặc dù nhà Mỹ và nhà Tây khác nhau rất xa.

Ở Mỹ–trừ những trung tâm thương mại lớn toàn là cao ốc năm bảy chục tầng–những khu dân cư đều là biệt thự. Người Mỹ thích thay đổi nhà như người ta thay đổi xe vì thế họ không xây nhà kiên cố như dân châu Âu. Nhà Mỹ xây bằng gỗ, kể cả những nhà giá một triệu đô la cũng xây bằng gỗ nhưng rất chắc chắn, đầy đủ tiện nghi và sang trọng. Nhìn từ bên trong không ai biết đó là nhà gỗ. Sàn nhà trải thảm, tầng hầm (basement) cũng trải thảm. Tường và trần nhà sơn nước phẳng lì như kiếng, tất cả các cửa đều làm bằng nhôm hoặc gỗ quý. Bên ngoài nhà là sân cỏ xanh và landscape trồng hoa kiểng.

Nhà của Tây là những mái ấm thần tiên. Họ ở trong rừng, dưới thung lũng xanh đầy bóng mát và tiếng chim. Có lần tôi đi dạo trong một khu dân cư ngoại ô thành phố NewYork. Đó không phải là cõi trần gian nữa, mà là thiên đường, với rừng cây, đồi cỏ, thảm hoa, mọc quanh những biệt thự xinh xắn như trong truyện thần tiên, mới giật mình thấy sao mà khoảng cách giữa dân của họ và dân của mình xa vời đến thế!

*

Ở Việt Nam, tại các thành phố lớn cũng có người ở nhà Tây, nhưng đại đa số nhân dân nhà cửa xuềnh xoàng, thiếu thốn, cho nên ở nhà Tây đối với dân mình là một mơ ước xa vời. Nhưng còn cái ăn thì chưa chắc ai đã hơn ai. Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng không thấy đâu có món ăn tươi tốt, phong phú và ngon lành như ở Việt Nam. Còn chuyện lấy vợ thì hạnh phúc hay không phụ thuộc vào tình yêu chứ không cứ gì phải nài cho được một cô vợ Nhật.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

21. Gài độ nhậu

Ngày xưa tại Trung Quốc có bảy nhân vật nổi tiếng gọi là Trúc Lâm Thất Hiền. Một trong bảy vị đó là Lưu Linh, một tay uống rượu vào loại sư tổ. Ngài đã uống thì không bao giờ uống ít. Mỗi lần nhậu, ngài nốc sơ sơ 9 đấu rượu tương đương 20 lít. Ngài có thói quen, khi đi nhậu thường dắt một đệ tử đi theo. Hỏi để làm gì thì đáp:

-Ðể khi nào ta quá chén, có đứt bóng thì đào lỗ chôn luôn.

Chịu chơi đến thế, thiên hạ không gọi là hiền nhân cũng uổng. Sở dĩ kẻ hậu bối ca ngợi cái tinh thần chịu chơi của sư phụ vì đám đệ tử của ngài ngày nay chịu uống rượu mà không chịu chơi. Họ coi bữa nhậu hơn cả nhân cách của mình.

Trong đám giang hồ quái khách hiện nay xuất hiện một tay gài độ có cỡ mà bất cứ ai nghe cũng chắp tay vái, gọi bằng thầy.

Thầy là người tự trọng, không thèm nhậu với đám nghèo. Ngày ngày, thầy lượn qua các quán nhậu, thấy bàn nào có khách xịn mới sà đến bắt chuyện.

Rượu được vài tuần, thấy bia đã cạn, mồi cũng hết, không khí không được vui, ngài bèn vỗ lên túi xách:

-Tớ mới thắng xập xám hơn triệu bạc, cứ nhậu thoải mái.

Thầy mở túi xách, khoe cọc bạc xanh lè rồi búng ngón tay gọi một thùng bia, kèm một đĩa gà xé phay.

Thầy nói:

-Nhậu nhẹt như các chú chán chết. Uống thì phải uống tới chỉ mới đã.

Rồi vô lia lịa, thuốc lá đốt phì phèo. Vừa lúc, có một tốp ba ông bạn lững thững vào quán, thầy búng tay gọi luôn:

-Có chơi bia lon không? Lại đây.

Ba vị khách nghe lời mời thì cả mừng, bèn nhào tới. Bia nổ lốp bốp. Hồi lâu tiệc sắp tàn, thầy bèn đứng dậy vào toa-let. Lúc trở ra, thầy lấy khăn nóng lau mặt rồi bảo:

-Gọi tính tiền!

Tưởng thầy móc tiền trả, té ra thầy nói:

-Các cậu thanh toán hóa đơn này đi. Rồi tới lượt anh. Mình làm tăng hai.

Thầy móc túi ra một cọc bạc, dõng dạc tuyên bố:

-Nhậu hết triệu bạc này mới được về.

Anh em ai cũng say cả rồi nhưng vừa mới bị thầy gạt, tức lắm. Một người trong đám nổi máu, rút trong túi ra 100 đô la ném xuống bàn tố luôn:

-Chắc hôn? Anh có dám chơi, tôi chơi luôn. Tui 100 đô, anh một triệu đồng Việt Nam. Chơi hết luôn.

Thầy cười ha hả:

-Khá lắm, chú em chơi được, chơi luôn.

Nhưng khi bạn bè gọi tiếp viên dọn bàn để “tăng hai” thì thầy ngăn lại:

-Tiền thì nhiều mà quán thì nhỏ. Chúng ta xuống Ngự Uyển uống bia lon, nhậu có chỗ gác tay mới đã.

Cả bọn hăm hở lên xe, rồ ga phóng đi. Thầy cũng lên xe trực chỉ. Ðến nơi, mọi người vào quán yên vị hồi lâu nhưng đợi hoài không thấy thầy đến. Bạn bè tức quá kéo đến nhà thầy, vợ thầy bảo:

-Ổng đang ngủ.

*

Tôi đem bài báo này đến nộp cho tòa soạn, sẵn lãnh cái nhuận bút 100 ngàn đồng của số báo trước. Người phụ trách trang, liếc nhanh qua bài báo, gật gù nói:

-Tuyệt quá, ta phải ăn mừng bài báo này.

Rồi anh kéo tôi vào một nhà hàng xinh xắn gần tòa soạn.

Anh là người hào phóng, kêu bia lon và thuốc con mèo đãi tôi.

Anh em uống với nhau một hồi tốn hết 65.000 đồng. Khi anh trả tiền tôi bỗng nhớ tới nhuận bút.

-Chết cha! Ðể tôi vào tòa soạn nhận nhuận bút kẻo trễ giờ.

-Khỏi lãnh! Mình đã lãnh giúp cậu rồi. Một trăm ngàn đồng, vừa trả hết 65.000 đồng tiền bia, còn 35.000 đồng của cậu đây.

Rồi anh ta nhét xấp bạc lép kẹp vào túi tôi.

Ðêm đó, tôi ngủ không được. Không phải tôi tiếc 65.000 đồng bị gài độ mà tiếc đã nộp bài báo quá sớm. Nếu không, tôi đã có một đoạn kết hay hơn nhiều.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

22. Hứa lèo

Có việc cần giúp đỡ, chạm phải một khuôn mặt lạnh tanh. Dội liền! Gõ cửa một công ty xin việc làm, gặp cô thư ký ngồi ngáp vặt. Ðã buồn mà gặp một ông giám đốc mặt sắt đen sì không thèm nói nửa tiếng, lại càng buồn hơn.

Sự thờ ơ và lạnh lùng làm chúng ta khó chịu và đôi khi tủi thân.

Ngược lại, sự nhiệt tình của người khác làm chúng ta vui vẻ, tin tưởng và hy vọng.

Bạn có người thân bị bịnh nặng? Quá dễ, mình có người bạn làm giám đốc bệnh viện, để mình nói một tiếng là xong ngay. Nằm phòng chăm sóc đặc biệt, và miễn phí.

Con bạn mới tốt nghiệp đại học kinh tế hả? Cháu nó muốn xin việc làm ở công ty xuất nhập khẩu hả? Ba mươi giây! Ông anh ruột mình làm trưởng phòng tổ chức ở đó, có gì mà lo. Về làm hồ sơ gấp đi.

Bạn đang bị người ta tranh chấp nhà đất hả? Ðã đưa đơn kiện khắp nơi mà không ép phê hả? Sao không cho mình biết sớm! Mình chỉ cần viết một bài báo là xong. Tờ báo ấy coi mình như người nhà.Tay trưởng ban biên tập là đàn em của mình.

Thật may mắn vì trên đời này còn có những con người quý hóa như thế!

Anh bạn của chúng ta là một mẫu người nhiệt tình với mọi người. Lúc nào cũng sốt sắng. Ai cần gì, anh ta không tiếc lời hứa. Chuyện khó cỡ nào anh ta cũng có cách giải quyết tốt đẹp. Chúng ta thấy tràn trề hy vọng. Chúng ta tin tưởng và phấn khởi. Chúng ta thấy anh rất đáng yêu, thấy trên đời này không gì cao quý bằng tình bạn, không gì hay ho bằng sự quen biết.

Nhưng hãy coi chừng! Dẫu rằng anh ta không có ý xấu nhưng rất có thể anh ta là một người ba hoa. Và rất hời hợt. Vừa trẻ con vừa rỗng.

Rất có thể anh ta có người bạn làm giám đốc bệnh viện nhưng đừng nói chi là người thân của bạn đang bị bịnh nặng, ngay cả chính anh ta bị bệnh chưa chắc đến đó ông giám đốc đã nhận ra anh ta, nói chi đến việc chăm sóc đặc biệt và miễn phí, bởi vì đây là bệnh viện của nhà nước chớ có phải là bệnh viện của ông giám đốc đâu.

Cũng rất có thể anh ta có người em làm trưởng phòng tổ chức công ty nọ nhưng việc tuyển dụng nhân viên còn tùy thuộc nhiều thứ: công ty có thiếu người không? Người muốn xin việc có năng lực không? Cũng có thể người trưởng phòng nọ chỉ là em họ xa, và không ưa anh ta, trong trường hợp đó một cái thư giới thiệu của anh ta chỉ làm cho người trưởng phòng kia bực mình. Kết quả sẽ xấu đi rất nhiều.

Còn việc anh ta hứa giải quyết vụ tranh chấp nhà đất cho bạn chỉ bằng một bài báo. Thực ra ai đã từng làm báo hay từng gởi bài đăng báo đều biết rằng muốn đăng một bài báo không dễ chút nào. Nếu bạn là phóng viên được phân công đi viết bài mà viết không hay thì bài vẫn bị loại như thường. Nếu bạn chỉ là một cộng tác viên vô danh gởi bài đến, thì bài của bạn phải thật đặc sắc may ra tòa soạn mới dùng. Nếu bạn gởi bài tố cáo một vụ bê bối nào đó ở địa phương thì tòa soạn cũng phải gởi phóng viên đến tận nơi điều tra hư thực thế nào, mức độ có đáng đưa lên báo không… rồi mới quyết định đăng hay không, chứ làm gì có chuyện giúi bài báo vào tay một “đàn em “ nào đó ở tòa soạn để đăng một cách vô tội vạ.

*

Tất nhiên cũng có những người hứa giúp ta và đã tìm mọi cách để giúp cho bằng được. Nhưng thường những người như vậy có cách hứa hẹn khác. Lời lẽ của họ chừng mực hơn, ít lời hơn, chín chắn hơn. Cái gì nhắm được thì hứa, không thì thôi. Cái nào khó, họ sẽ cùng bạn tìm cách khắc phục để giải quyết một cách hiệu quả.

Ðó là những người bạn tốt, có thể tin cậy được.

Những người gặp gì cũng hứa – trong dân gian người ta gọi là HỨA LÈO – xét cho cùng là những người nguy hiểm. Họ tạo cho ta những hy vọng hão huyền. Có thể họ không có ý lừa gạt nhưng kết quả giống hệt một vụ lừa gạt. Họ làm chúng ta mất rất nhiều thì giờ bằng những chờ đợi vô vọng.

Vì tin vào họ mà chúng ta bỏ lỡ những cơ hội khác có khi rất quý báu và chỉ đến với ta một lần trong đời.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

23. Tôi đi chợ

Lúc chưa có kinh nghiệm, buổi sáng khi bà xã đi chợ, tôi thường nhờ mua một gói xôi hay mấy cái bánh giò. Vậy là coi như sáng đó nhịn đói. Tại sao? Vì thường buổi đi chợ kéo dài suốt hai tiếng đồng hồ. Không ai trên đời này có đủ kiên nhẫn để chờ một bữa ăn sáng như thế. Và hoặc là cái dạ dày sôi lên vì giận, buộc tôi phải xoa dịu nó bằng một tô phở ở đầu hẻm, hoặc là tôi xách xe đi làm với cái bụng rỗng.

Hỏi tại sao ”người“ lại đi chợ lâu thế, ”người“ chỉ cười, không đáp. Từ đó tôi tự đi ăn sáng lấy, chấm dứt giai đoạn ”đợi mẹ đi chợ về”.

Nhưng câu hỏi vẫn còn nằm chình ình trong đầu. Tại sao bà xã lại đi chợ lâu như thế? Lâu ngày câu hỏi biến thành cái búa gõ vào đầu tôi binh binh, không chịu nổi, tôi xỉ vả:

-Lấy một con rùa thật là chán. Ði chợ mất hai tiếng đồng hồ, nấu ăn mất hai tiếng, tổng cộng bốn tiếng đồng hồ cho một bữa ăn, trong khi thì giờ là vàng bạc.

Bà xã nói:

-Vậy anh thử đi chợ một bữa xem sao.

-Ðược, anh sẽ làm mẫu cho em thấy. Có gì đâu mà lâu lắc như vậy? Thịt bò, thịt heo bao nhiêu một ký, lựa thứ ngon nhất trả tiền. Xong. Cá bao nhiêu một ký. Lựa loại tươi nhất trả tiền. Xong, thêm một món rau. OK, xách giỏ đi về. Tốn chừng mười lăm phút. Cơm thì có nồi điện tự động. Thịt và cá, nấu nướng trong vòng hai mươi phút. Cứ cho tổng cộng là một tiếng đồng hồ đi, đã có một bữa ăn ngon lành. Làm gì mà em mất bốn tiếng đồng hồ cho một bữa ăn?

Bà xã im lặng, nhét vào tay tôi hai chục ngàn đồng.

-Sao ít vậy?

-Lâu nay em vẫn chi chừng ấy.

-Không hề gì. Ăn thua mình biết tính toán chi tiêu hợp lý.

Thế là tôi xách giỏ lên đường.

Thời đại văn minh mua đồ không cần trả giá. Mười ngàn thịt, tám ngàn cá và hai ngàn rau. OK, một bữa ăn ngon lành. Trên đời này không có gì dễ bằng đi chợ.

Tôi xách giỏ trở về chỉ đồng hồ, bảo vợ:

-Mười ba phút. Tiết kiệm được 107 phút. Em thấy không, trong 107 phút, tức 1 giờ 47 phút anh có thể viết xong một bài báo. Bài đó nếu đăng, kiếm được hai trăm ngàn đồng. Bao nhiêu là lợi. Thế mới gọi là tính toán chứ.

Bà vẫn im lặng.

Tôi lăn vô bếp. Thịt cốc lết tôi chiên. Cá tôi rán. Rau muống thì luộc, lấy nước làm canh. Nhất cử lưỡng tiện. Ðàn ông mà tính toán thì khỏi chê.

Cả nhà thích thú quan sát tôi làm bếp với những nụ cười âu yếm. Tôi xếp thức ăn lên đĩa, giải thích cùng vợ con:

-Tất cả những đầu bếp giỏi nhất trên thế giới đều là đàn ông. Em xem, các nhà hàng lớn ở thành phố này có chỗ nào dùng đầu bếp là đàn bà đâu.

Mọi người ngồi vào bàn. Phải nói đó là bữa ăn ngon miệng nhất trong đời tôi. Mà không phải chỉ mình tôi. Cả vợ và hai con trai kháu khỉnh của tôi đều đớp lia lịa. Ba mươi giây, đĩa bát sạch bách. Cả nước luộc rau chúng cũng bưng uống ừng ực. Cơm cũng sạch trơn, không còn một hột.

Tôi vênh váo:

-Em thấy chưa. Trước đây có bao giờ mọi người ăn uống ngon lành như bữa nay không? Anh chưa hề học một khóa làm bếp nào, nhưng ăn thua là cái đầu. Người giỏi, làm việc gì cũng giỏi còn người…

Rất may tôi kịp nhớ câu ”Bệnh tật từ miệng đi vào, tai họa từ miệng đi ra”. Tuy vậy, bà xã không chịu bỏ qua, hỏi gay:

-Ý anh muốn nói còn người ngu thì làm việc gì cũng ngu, và con rùa thì làm việc gì cũng chậm có phải không?

-Ðó là em suy luận, anh tuyệt nhiên không dám phạm thượng.

Cũng may bà xã cho qua. Còn ”hô khẩu hiệu”:

-Chúc mừng bữa cơm thành công rực rỡ.

Chiều đó tôi ở sở làm về, trong bụng rất vui. Theo thói quen tôi đi tắm trước khi dùng bữa cơm chiều. Tắm xong đèn trong hẻm bật sáng.

-Mời ba đi ăn cơm.

Tôi lửng thửng ra phòng ăn. Ba mẹ con đang đợi tôi quanh mâm cơm chỉ có độc một chén nước mắm không có ớt.

-Sao kỳ vậy? Tôi hỏi.

-Có gì mà kỳ. Người ta luôn luôn đi chợ cho hai bữa ăn, chỉ có anh là không biết điều đó.

Tôi toát mồ hôi. Quả thực mình đã không nghĩ tới điều đó. Nhưng vẫn chống chế:

-Em đưa có hai chục ngàn, làm sao đi chợ cho hai bữa được?

-Lâu nay em đi chợ hai chục ngàn mà vẫn đảm bảo hai bữa cơm.

Tôi nhức xương quá bèn xua tay:

-Thôi, anh hiểu rồi.

-Nhưng em thấy cần phải nói thêm cho anh hiểu rằng đi chợ như anh, ai đi cũng được. Cứ coi món nào ngon nhất thì mua, không cần trả giá. Ði chợ mười lăm phút là phải rồi. Còn em, mỗi lần đi chợ, cầm hai chục ngàn trong tay phải đi lui, đi tới từ đầu chợ đến cuối chợ để ”nắm tình hình”, sau đó mới quyết là sẽ mua cái gì. Khi mua phải trả giá năm lần bảy lượt, lựa hàng nào vừa rẻ vừa ngon thì mới mua. Về nhà còn phải chế biến như thế nào để có thể ăn đủ hai bữa cơm. Ðối với những viên chức nghèo như mình cầm trong tay có hai chục ngàn mà phải lo hai bữa ăn cho gia đình thì cũng đau cái đầu lắm anh yêu ạ.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

24. Xâu chìa khóa

Bà vợ tôi suốt ngày tìm chìa khóa. Mới năm giờ sáng tôi đã bị đánh thức bởi những tiếng lục đục trong phòng.

- Kỳ quá. Lộn đàng nào.

Sợ làm phiền giấc ngủ của tôi nên bà không dám bật đèn, cứ mò tìm trong tối, đụng phải cái ly, bể tan tành. Tôi thức dậy, lấy chìa khóa của mình đưa cho bà để bà mở cửa đi tập dưỡng sinh. Tìm chìa khóa là chuyện thường ngày của bà, mặc dù lúc nào bà cũng kè kè chìa khóa bên mình, không rời một ly. Nhưng chính vì không dám rời xâu chìa khóa mà nó hay lạc mất. Từ trên lầu xuống đất bà cũng cầm chìa khóa theo rồi bỏ quên dưới đất, khi lên lầu, không có chìa khóa vô phòng thì kêu trời. Xuống đất tìm, không nhớ là để đâu. Bàn ăn hay phòng khách? Hay chỗ cái điện thoại?

Ði làm. Ðến cơ quan lấy xâu chìa khóa ra mở tủ hồ sơ rồi cứ cắm luôn nơi đó mà đi về. Lại không có chìa khóa vô phòng. Lại kêu trời. Mắc bệnh đãng trí mà lại quá cẩn thận. Hễ cứ ra khỏi phòng là khóa cửa. Nhiều khi bóp ổ khóa xong mới nhớ là xâu chìa khóa vẫn còn ở trong phòng.

Tóm lại vợ tôi là người suốt đời đau khổ vì xâu chìa khóa.

Tôi hỏi:

-Tại sao em không để chìa khóa trong túi xách, cho dễ tìm?

Bà nghe lời tôi, cất xâu chìa khóa trong giỏ nhưng sau đó lại phải lôi hết đồ trong giỏ ra để tìm xâu chìa khóa vì bà không nhớ là đã bỏ vào ngăn nào.

Ðồ vật thứ hai mà bà thường bỏ quên là cái mắt kính. Nó là cặp mắt của bà, không có nó coi như mù, chính vì thế mà đi đâu bà cũng mang theo. Ví dụ như sang phòng thằng con trai để chỉ cho nó học toán rồi bỏ quên nơi đó. Nửa đêm khó ngủ cần kính để đọc sách thì thằng con đã cài chốt cửa phòng đi ngủ từ lâu rồi.

Mỗi lần có nhân viên công ty cấp nước hay công ty điện đến ghi hóa đơn đòi tiền, bà mang mắt kính từ trên lầu xuống, nói chuyện với họ một lúc rồi cũng bỏ quên mắt kính nơi phòng khách.

Ðể giúp bà khắc phục bệnh đãng trí, tôi bèn đóng cho bà một cái đinh nơi khung cửa, rồi kéo bà đến bên cái đinh, tôi nói:

-Mỗi khi đi làm về bà móc xâu chìa khóa vô đây. Nhớ chưa. Tóm lại sau khi sử dụng xong là đem móc vô đây. Như thế sẽ không phải lục tung đồ đạc lên mà tìm nữa. Nhớ chưa.

Bà gật gật đầu nhưng có vẻ chưa tin cách quản lý chìa khóa của tôi. Ðể thuyết phục bà, tôi bèn chỉ cái đinh của tôi và nói:

-Lâu nay anh vẫn xài một cái đinh như thế. Rất là tiện. Cứ cần chìa khóa là đến chỗ cái đinh. Em thấy có bao giờ anh phải bận tâm về xâu chìa khóa đâu.

Bà có vẻ hiểu ra, ngoan ngoãn lấy xâu chìa khóa của mình móc lên cái đinh tôi mới đóng.

Sáng hôm sau như thường lệ tôi đến bên cái đinh để lấy chìa khóa đi làm thì trời ơi, nó đã biến mất rồi. Nhìn sang cái đinh của bà vợ yêu thì xâu chìa khóa của ”nàng“ vẫn còn đó. Tôi tức muốn chết được vì không biết làm sao mở khóa xe đi làm, đành ngồi xích lô đến ngay chỗ bà đang tập võ dưỡng sinh. Ðến nơi thấy mọi người đang tập hăng hái, chỉ riêng bà thì đang lom khom nơi bãi cỏ, giống như đang bắt dế.

-Bà bắt con gì đấy?

-Có bắt con gì đâu. Nhưng ông tới đây làm gì?

-Còn hỏi nữa. Bà lấy lộn chìa khóa của tôi. Ðổi lại đi.

Bà vợ yêu của tôi lau mồ hôi trán, thở dài:

-Rớt mất rồi. Nãy giờ tìm muốn chết.
      
Love
Love Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Bài viết : 286

Danh vọng : 551

Uy tín : -1

25. Cặp song tấu ghi-ta huyền thoại

Câu chuyện bắt đầu tại một khu rừng rậm của tiểu ban Ceará trên vùng núi phía bắc Brazil, nơi bộ tộc da đỏ Tabajaras sống cách ly hẳn với người da trắng.

Mặc dù rất hiếu hòa nhưng những người Tabajaras vẫn không có thiện cảm với người da trắng. Họ thường tự hào rằng bộ tộc Tabajaras có một nền văn minh cao.

Một trong những vị lãnh đạo nổi tiếng của người Tabajaras là tộc trưởng Mitanga. Ông là cha của 30 người con. Và hai trong số con ấy đã làm nên câu chuyện thần kỳ nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới.

Vào một buổi sáng cách đây hơn ba mươi năm, hai chàng trai người da đỏ tên là Musaperi và Herundy đang dạo chơi trong rừng thì nhận ra các dấu hiệu của những người da trắng vừa bỏ đi sau một bữa tiệc liên hoan picnic trên bãi cỏ xanh bên cạnh một lối mòn. Musaperi và Herundy nhìn thấy một cái hộp lớn màu đen bị bỏ sót lại.

Tò mò, hai chàng trai đem cái hộp về nhà, nhưng họ không dám mở ra vì sợ nó nổ. Trước đây đã có những người trong bộ tộc Tabajaras nhặt được những khẩu súng đem về, và trong lúc tò mò táy máy tay chân, họ đã làm súng nổ, gây kinh hoàng cho nhiều người.

Lần này thì Musaperi và Herundy cẩn thận hơn, họ đem giấu chiếc hộp đen vào một nơi kín đáo, suốt hai tuần liền.

Cuối cùng, vì thấy cái hộp có vẻ hiền lành và không có dấu hiệu gì là nó sẽ phát nổ, hai chàng trai bèn đem nó ra ngắm nghía và quyết định mở nắp hộp.

Vật đựng bên trong là một cây đàn ghi-ta. Nhưng họ không hề biết nó là một nhạc cụ, cho đến khi một người chạm ngón tay vào sợi dây đàn.

Những âm thanh ngân lên. Chúng cuốn hút hai chàng trai một cách thần bí. Herundy cầm cây đàn trên tay và bắt đầu mò mẫm.

Một tiếng gọi thần bí nào đó của thiên tài bẩm sinh đã vang lên trong tâm hồn chàng và những ngón tay chàng tự khám phá ra các hợp âm, các giai điệu. Chỉ mấy hôm sau hai chàng trai đã sử dụng được cây ghi-ta, đệm theo những bài dân ca hoang dã của bộ tộc Tabajaras. Họ yêu cây đàn đến nỗi quyết định rời bỏ bộ lạc để hòa nhập vào thế giới của người da trắng, nơi xuất thân của cây đàn ghi-ta.

Rio de Janeiro là nơi dừng chân đầu tiên trong chuyến phiêu lưu của hai chàng da đỏ trẻ tuổi. Ðến lúc này họ vẫn chưa hề biết một nốt nhạc và hoàn toàn xa lạ với những lý thuyết, những quy luật về hòa âm. Tuy vậy những buổi biểu diễn của họ đã gặt hái được nhiều thành công. Âm nhạc của họ đã mang lại vẻ sơ khai, hoang dã. Phần nhạc điệm táo bạo, phóng túng và đầy ngẫu hứng của họ đã gây được ấn tượng mạnh mẽ sâu sắc trong những bài dân ca của bộ tộc Tabajaras.

Sau đó là một cuộc hành trình dài sáu năm ở Nam Mỹ và cuối cùng dừng chân tại miền bắc Mexico. Họ lấy biệt danh là Natalicio và Antenor. Tên tuổi của họ vang dội khắp nơi nhưng những người ái mộ lại thích gọi họ là “Những chàng Tabajaras“ (Los Indios Tabajaras).

Bấy giờ họ quyết định ngưng các buổi diễn ”võ rừng“ của mình để học nhạc. Mỗi người chọn một thầy khác nhau. Antenor học chuyên về hòa âm (accompaniment) và Natalicio học chuyên về giai điệu (melody). Họ học thêm nhạc cổ điển và dân ca Brazil. Họ chơi nhạc Bach, Beethoven, Chopin, Rimsky, Korsakoff, Falla và Albéniz.

Sau hai năm học nhạc, hai chàng nhạc sĩ da đỏ tiếp tục cuộc hành trình của mình đến các nhà hát kịch tại những thủ đô Nam Mỹ. Sau đó là chuyến đi biểu diễn dài ngày ở Châu Âu. Họ đã ra mắt khán giả ở Madrid,Barcelona, Roma, Athens và Lisbon. Họ đã học hát và nói tiếng Ý, Ðức và Hy Lạp. Ðó là chưa kể tiếng Tây Ban Nha và Bồ Ðào Nha mà họ đã từng học trong những chuyến lưu diễn ở Châu Mỹ La Tinh trước đây.

Ðến lúc này, chương trình biểu diễn của họ đã rất phong phú với các tác phẩm cổ điển Châu Âu, những bài dân ca mang đặc nét châu Mỹ La Tinh, cộng thêm những giai điệu hoang dã của bộ tộc Tabajaras.

Họ đã gặt hái được những thành công rực rỡ và nổi tiếng khắp thế giới. Họ đã đi rất xa trong âm nhạc, và rất xa bộ lạc của mình, nơi mà trước đây tình cờ họ đã nhặt được một cái hộp màu đen trên bãi cỏ cạnh một lối mòn trong rừng.
      
      

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 2 trang]

Chuyển đến trang : 1, 2  Next

Quyền hạn của bạn

Bạn không có quyền trả lời bài viết
free counters



  • Đoàn Ngọc Khánh

    mobile phone 098 376 5575


    Đỗ Quang Thảo

    mobile phone 090 301 9666


    Nguyễn Văn Của

    mobile phone 090 372 1401


    IP address signature
    Free forum | © PunBB | Free forum support | Liên hệ | Báo cáo lạm dụng | Thảo luận mới nhất